Bản án 02/2019/HNGĐ-ST ngày 20/02/2019 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BL, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 02/2019/HNGĐ-ST NGÀY 20/02/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 20 tháng 02 năm 2019 tại Toà án nhân dân thị xã BL, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 37/2018/TLST-HNGĐ ngày 28/12/2018 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/QĐST-HNGĐ ngày 21/01/2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hồng L, sinh năm 1970 (có đơn xin vắng mặt) Địa chỉ: Thôn 4 ấp PP, xã QT, huyện QS, tỉnh Quảng Nam

- Bị đơn: Chị Đỗ Thị H, sinh năm 1982 (có mặt) Địa chỉ: Tổ 7 ấp TT, xã TL, thị xã BL, tỉnh Bình Phước

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện ngày 06/12/2018 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Hồng L trình bày:

Anh và chị Đỗ Thị H sau thời gian tìm hiểu, đã tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn vào ngày 21/3/2007 tại Ủy ban nhân dân xã TL, huyện BL (nay là thị xã BL), tỉnh Bình Phước theo đúng quy định pháp luật. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc.

Vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được khoảng hai năm thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã, vợ chồng không còn sống chung nhiều năm. Anh thấy mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên muốn ly hôn với chị Đỗ Thị H.

Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có một con chung tên Nguyễn Hồng Thiên K, sinh ngày 07/6/2007. Việc sinh sống với cha hay mẹ sau khi ly hôn do cháu Thiên Kquyết định.

Về nợ chung và tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

* Quá trình giải quyết vụ án, tại bản tự khai ngày 28/12/2018 bị đơn chị Đỗ Thị H trình bày:

Chị thống nhất với lời trình bày của anh Nguyễn Hồng L về thời gian chung sống, về tình trạng hôn nhân của vợ chồng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được khoảng hai năm, đến năm 2009 anh Hồng Lbỏ về tỉnh Quảng Nam sinh sống cho đến nay. Chị thấy mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên thống nhất ly hôn như đề nghị của anh Nguyễn Hồng L.

Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có một con chung tên Nguyễn Hồng Thiên K, sinh ngày 07/6/2007. Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn, không yêu cầu anh Hồng Lcấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn Ngày 06/12/2018, nguyên đơn anh Nguyễn Hồng L có đơn xin xét xử vắng mặt. Tại phiên tòa: Bị đơn chị Đỗ Thị H đồng ý yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Nguyễn Hồng L và yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn, không yêu cầu anh Nguyễn Hồng L cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long phát biểu ý kiến:

Việc chấp hành theo quy định pháp luật của Thẩm phán: Quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý cho đến nay, Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Về thời hạn chấp hành theo quy định pháp luật của HĐXX: Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Việc chấp hành theo quy định pháp luật của các đương sự, trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã chấp hành đúng quy định pháp luật tại Điều 70 và Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của nguyên đơn, giao con chung cho chị Đỗ Thị H trực tiếp nuôi sau khi ly hôn, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ ý kiến trình bày và kết quả tranh luận tại phiên tòa và thông qua nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Hồng L, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án “Ly hôn” theo quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 do anh Nguyễn Hồng L khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Đỗ Thị H.

Chị Đỗ Thị H đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ tổ 7 ấp TT, xã TL, thị xã BL, tỉnh Bình Phước. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã BL, tỉnh Bình Phước.

Ngày 06/12/2018, nguyên đơn anh Nguyễn Hồng L có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định pháp luật.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị H và anh Nguyễn Hồng L đăng ký kết hôn vào ngày 21/3/2007 tại Ủy ban nhân dân xã TL, huyện Bình Long (nay là thị xã Bình Long), tỉnh Bình Phước theo đúng quy định pháp luật nên hôn nhân của chị Đỗ Thị H và anh Nguyễn Hồng L là hợp pháp.

Anh Nguyễn Hồng L trình bày, vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được khoảng hai năm thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã, vợ chồng không còn sống chung nhiều năm. Tại bản tự khai ngày 28/12/2018, chị Đỗ Thị H đồng ý ly hôn với anh Hồng Lĩnh. Xét thấy, hôn nhân của anh Hồng Lvà chị Đỗ Thị H mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Hồng L.

[3]. Về con chung: Chị Đỗ Thị H yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn và cháu Thiên K có nguyện vọng muốn sinh sống với chị Đỗ Thị H sau khi cha mẹ ly hôn. Do đó để ổn định tâm lý cho con, thì cần giao con chung cho chị Đỗ Thị H trực tiếp nuôi con sau khi cha mẹ ly hôn là phù hợp với quy định pháp luật và nguyện vọng của con trên 7 tuổi, nên yêu cầu của chị Đỗ Thị H được Hội đồng xét xử chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con, chị Đỗ Thị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[5]. Về án phí: Anh Nguyễn Hồng L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Khoản 1 Điều 56, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Áp dụng Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Hồng L được ly hôn với chị Đỗ Thị H.

- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Hồng Thiên K, sinh ngày 07/6/2007 cho chị Đỗ Thị H trực tiếp nuôi sau khi ly hôn, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.

- Về án phí: Anh Nguyễn Hồng L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004375 ngày 21/12/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước.

- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết tại chính quyền địa phương, nơi cư trú.


43
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 02/2019/HNGĐ-ST ngày 20/02/2019 về ly hôn

Số hiệu:02/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Bình Long - Bình Phước
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 20/02/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về