Bản án 02/2019/HNGĐ-ST ngày 10/01/2019 về tranh chấp ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH QUẢNG NAM

BẢN ÁN 02/2019/HNGĐ-ST NGÀY 10/01/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 10 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 333/2018/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2018 về việc “Tranh chấp ly hôn và con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2018/QĐXX-ST ngày 25 tháng 12 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lương Thị H (có mặt).

Địa chỉ: Thôn N, xã M, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; có mặt tại phiên tòa.

2. Bị đơn: Anh Trần Xuân C (vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn Q, xã G, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn ngày 21 tháng 8 năm 2018 và các lời khai tại phiên tòa nguyên đơn chị Lương Thị H trình bày:

1. Về hôn nhân:

Chị Lương Thị H và anh Trần Xuân C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam.

Chị và anh C chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, dẫn đến cuộc sống vợ chồng thường cãi vả nhau, chị và anh C sống ly thân và chị bỏ về nhà cha mẹ ruột chị sinh sống từ tháng 6/2016 đến nay.

Nay chị H thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa. Vì vậy, chị H làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh C.

Tại bản tự khai của anh Trần Xuân C (bị đơn) ngày 17/12/2018 đối với yêu cầu của nguyên đơn ngày 21 tháng 8 năm 2018, anh C khai nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do vợ chồng bất đồng quan điểm nên trong cuộc sống chung thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Vợ chồng ly thân nhau từ năm 2016 đến nay. Nhưng nay tình cảm vợ chồng anh vẫn còn nên anh không đồng ý ly hôn.

2. Về con chung: Chị H và anh C thống nhất khai vợ chồng có một con chung là Trần Thị kiều K, sinh ngày 01/01/2016. Nay ly hôn chị H và anh C đều có nguyện vọng được nuôi cháu Trần Thị Kiều K, sinh ngày 01/01/2016. Chị H và anh C không ai có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị H và anh C thống nhất khai không có nên không yêu cầu tòa giải quyết.

 NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

*Về tố tụng:

Tại hồ sơ vụ án bị đơn Trần Xuân C có đơn xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên đương sự.

*Về nội dung:

1. Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh C là hợp pháp. Quá trình chung sống do hai bên không đồng nhất quan điểm trong cuộc sống cũng như trong gia đình, dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã kiên trì hòa giải nhưng chị H vẫn kiên quyết ly hôn. Chị H và anh C không còn chung sống với nhau từ tháng 6 năm 2016 đến nay. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh C đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần chấp nhận đơn xin ly hôn của chị H là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

2. Về con chung: Xét nguyện vọng nuôi con chung của chị H và anh C thì thấy: Trong thời gian chung sống vợ chồng có một con chung là Trần Thị Kiều K, sinh ngày 01/01/2016. Chị H và anh C đều có nguyện vọng được nuôi con chung.

HĐXX xét thấy, cháu K còn nhỏ nên cháu cần sự chăm sóc, nuôi dưỡng của người mẹ. Hơn nữa, chị H cũng có thu nhập ổn định nên đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu K. Căn cứ vào Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 HĐXX chấp nhận nguyện vọng của chị H là được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cháu K đến khi trưởng thành là phù hợp. HĐXX không chấp nhận nguyện vọng nuôi con chung của ông C là phù hợp với thực tế và đúng quy định pháp luật.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không xét.

4. Về tài sản chung, nợ chung: Chị H và anh C cùng khai không có nên HĐXX không xét.

5. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

 Căn vào Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Lương Thị H đối với anh Trần Xuân C.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lương Thị H được ly hôn với anh Trần Xuân C.

2. Về con chung: Tuyên giao con chung Trần Thị Kiều K, sinh ngày 01 tháng 01 năm 2016 cho chị Lương Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi trưởng thành. Chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh C có quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chưa thành niên khi cần thiết đôi bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con vá mức cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lương Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0003033 ngày 04 tháng 12 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ.

- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.


66
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 02/2019/HNGĐ-ST ngày 10/01/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:02/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đông Giang - Quảng Nam
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:10/01/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về