Bản án 02/2019/HNGĐ-ST ngày 08/01/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 02/2019/HNGĐ-ST NGÀY 08/01/2019 VỀ LY HÔN

Trong ngày 08 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 1227/2018/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 363/2018/QĐXX- ST ngày 14 tháng 12 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trương Thị O, sinh năm 1984 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp 3B, xã Hựu Thạnh, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An

2.Bị đơn: Anh Đỗ Văn Th, sinh năm 1983 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp 3B, xã Hựu Thạnh, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 19 tháng 11 năm 2018 và trong những lời khai tiếp theo tại Tòa án chị Trương Thị O trình bày:

Về hôn nhân: chị và anh Đỗ Văn Th tự nguyện kết hôn năm 2006. Hai người có đến UBND xã Hựu Thạnh, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đăng ký kết hôn theo quy định Luật Hôn nhân và gia đình vào ngày 29/12/2009. Cuộc sống chung vợ chồng thời gian đầu hòa thuận hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn và hai người chính thức ly thân nhau từ tháng 9/2018 cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cãi vã nhau về việc chi tiêu tiền bạc trong gia đình. Hơn hai tháng nay chị đã dọn về nhà cha mẹ ruột ở Trà Vinh sinh sống.

Nay chị thấy tình nghĩa vợ chồng không thể hàn gắn nên chị xin được ly hôn với anh Th.

Về con chung: có 02 con chung tên Đỗ Diệu Ng sinh ngày 21/11/2007 và Đỗ Diệu Hiền sinh ngày 05/9/2012 hiện con do anh Th đang nuôi, khi ly hôn chị đồng ý để các con cho anh Th nuôi chị không cấp dưỡng.

Tài sản chung: chị và anh Th không có tài sản chung.

Nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn: anh Đỗ văn Th trình bày về tình trạng hôn nhân giữa anh và chị O đúng như chị O nêu về thời gian kết hôn, ly thân, con chung nhưng mâu thuẫn vợ chồng anh thấy không có gì trầm trọng anh không đồng ý ly hôn muốn đoàn tụ nuôi con chung. Nếu như Tòa án chấp nhận đơn ly hôn của chị O thì anh đồng ý tiếp tục nuôi con không yêu cầu chị O cấp dưỡng.

Tài sản chung: không có

Nợ chung: không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Quan hệ pháp luật tranh chấp là hôn nhân gia đình, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Đức Hoà theo quy định tại Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị O xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xé xử vắng mặt bà O.

[2] Về hôn nhân: Xét thấy chị Trương Thị O và anh Đỗ Văn Th hai người trước khi kết hôn có tìm hiểu nhau thời gian ngắn khoảng 03 tháng và tiến đến hôn nhân vào năm 2009 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Hựu Thạnh nên có căn cứ xác định hôn nhân của anh chị là phù hợp pháp luật theo quy định Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Thấy rằng từ khi chung sống, hai người chỉ hạnh phúc thời gian đầu về sau cuộc sống chung không hợp nhau, cãi vã về quan điểm sống do anh Th nghi ngờ chị O có quan hệ người đàn ông khác. Anh Th không đồng ý ly hôn vì anh cho rằng hai vợ chồng có khả năng đoàn tụ, mâu thuẫn vợ chồng không đến mức trầm trọng vì anh còn thương vợ nhưng tại phiên tòa anh không đưa ra biện pháp đoàn tụ nên chị O kiên quyết đòi ly hôn và chị xin xét xử vắng mặt nên không có thiện chí đoàn tụ. Do đó Hội đồng xét xử thấy rằng chị O và anh Th hai người đã ly thân từ tháng 9/2018 không có thiện chí hàn gắn, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cho chị O được ly hôn của anh Th theo quy định Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Chị O và anh Th có 02 con chung chung tên Đỗ Diệu Ng sinh năm 27/11/2007 và Đỗ Diệu H sinh ngày 05/9/2012 hiện đang sống với anh Th. Khi ly hôn anh Th xin tiếp tục nuôi con, không yêu cầu chị O cấp dưỡng. Xét thấy cháu Ng có nguyện vọng sống với anh Th và anh Th nuôi dưỡng tốt cháu H nên cần giao hai cháu Ng và H cho anh Th nuôi phù hợp theo quy định Điều 81 Luật hôn nhân gia đình nghĩ nên chấp nhận. Đối với yêu cầu cấp dưỡng anh Th không yêu cầu nên không đề cấp xem xét.

[4] Về tài sản chung: anh Th và chị O thống nhất tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập xem xét.

[5] Về nợ chung: anh Th và chị O thống nhất khai không có không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập xem xét.

[6] Về án phí: chị O là nguyên đơn trong vụ án phải chịu án phí Hôn nhân gia đình.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 35, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 9, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: bà Trương Thị O được ly hôn anh Đỗ Văn Th.

2/ Về con chung: anh Đỗ Văn Th được tiếp tục nuôi con tên Đỗ Diệu Ng sinh ngày 27/11/2007 và Đỗ Diệu H sinh ngày 05/9/2012. Chị O không cấp dưỡng nuôi con vì anh Th không yêu cầu. Vì quyền lợi của trẻ, chị O được đến thăm nom chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Khi cần thiết, các đương sự có quyền yêu cầu xin thay đổi việc nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3/ Về án phí: chị O phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước, được khấu trừ số tiền đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị O đã nộp theo biên lai số 3668 ngày 05/12/2018 tại Chi cục thi hành án huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Như vậy chị O đã nộp xong.

Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.


45
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 02/2019/HNGĐ-ST ngày 08/01/2019 về ly hôn

Số hiệu:02/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đức Hòa - Long An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:08/01/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về