Bản án 02/2019/DS-ST ngày 22/05/2019 về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠ HUOAI – TỈNH LÂM ĐỒNG

BẢN ÁN 02/2019/DS-ST NGÀY 22/05/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VAY TÀI SẢN

Ngày 22 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ – tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 46/2018/TLST-DS ngày 12 tháng 12 năm 2018 về tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2019/QĐXXST–DS ngày 11 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Văn H – sinh năm: 1961

Trú tại: Ấp P – xã P – huyện T – tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phùng Xuân T – sinh năm: 1959, địa chỉ: Số A – đường Đ – tổ dân phố B – thị trấn M – huyện Đ – tỉnh Lâm Đồng là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Văn bản ủy quyền ngày 19/11/2018). (ông T có mặt)

- Bị đơn: Ông Phạm Văn L (tên gọi khác: L) – sinh năm: 1964

Trú tại: Tổ dân phố C– thị trấn M – huyện Đ – tỉnh Lâm Đồng. (ông L vắng mặt lần thứ hai không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Trong đơn khởi kiện ghi ngày 29 tháng 11 năm 2018 và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Phùng Xuân T trình bày:

Vào ngày 18/02/2017 ông Trần Văn H có cho ông Phạm Văn L (tên gọi khác: L) vay số tiền là 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) để mở rộng thêm kinh doanh khoan giếng, thời hạn vay là 03 tháng tính từ ngày 18/02/2017 thì ông Phạm Văn L phải thanh toán gốc và lãi cho ông Trần Văn H, lãi suất thỏa thuận miệng là 1%/1 tháng. Khi vay tiền ông Phạm Văn L (tên gọi khác: L) có viết và ký 01 giấy biên nhận ngày 18/02/2017. Đến hẹn trả nợ thì ông Phạm Văn L không trả nợ gốc và lãi cho ông Trần Văn H.

Tại phiên tòa người người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Phùng Xuân T thay đổi yêu cầu về tiền lãi, ông Trần Văn H yêu cầu ông Phạm Văn L (tên gọi khác: L) phải trả cho ông Trần Văn H số tiền là 122.410.000đ (một trăm hai mươi hai triệu bốn trăm mười ngàn đồng) trong đó tiền gốc là 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) và tiền lãi từ ngày 18/02/2017 đến ngày 22/5/2019 là 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) x 0,83%/1 tháng x 27 tháng = 22.410.000đ (hai mươi hai triệu bốn trăm mười ngàn đồng).

Ngoài ra ông Trần Văn H không yêu cầu gì khác.

* Bị đơn ông Phạm Văn L (tên gọi khác: L) đã được Tòa án thông báo, tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng nhiều lần nhưng không tham gia tố tụng, không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án nên không có lời khai của bị đơn ông Phạm Văn L (tên gọi khác: L).

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ – tỉnh Lâm Đồng đã có bài phát biểu đánh giá về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và đánh giá về việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Bài phát biểu đã đánh giá Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; đánh giá nguyên đơn ông Trần Văn H chấp hành đúng quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn ông Phạm Văn L (tên gọi khác: L) chưa chấp hành đúng quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Phùng Xuân T thực hiện đúng quy định tại Điều 86, 234 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau căn cứ Điều 429, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự 2015 đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn H buộc ông Phạm Văn L có trách nhiệm phải trả cho Trần Văn H số tiền cả gốc và lãi là 122.410.000đ (một trăm hai mươi hai triệu bốn trăm mười ngàn đồng), ông Phạm Văn L (tên gọi khác: L) phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát không có kiến nghị gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ các ý kiến của đương sự, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn ông Trần Văn H khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Phạm Văn L (tên gọi khác: L) có nơi cư trú tại Tổ dân phố C– thị trấn M – huyện Đ – tỉnh Lâm Đồng phải trả số tiền gốc và tiền lãi. Vì vậy, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự xác định đây là vụ án tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản.

Theo biên bản xác minh ngày 03/01/2019 của Tòa án tại Công an thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng thì ông Phạm Văn L (tên gọi khác: L) đăng ký hộ khẩu thường trú tại Tổ dân phố C– thị trấn M – huyện Đ – tỉnh Lâm Đồng, chưa cắt khẩu, chuyển khẩu đi đâu và vẫn đi đi về về tại địa phương. Tại giấy biên nhận ngày 18/02/2017 có chữ ký của ông Phạm Văn L thì ông Phạm Văn L đã cung cấp địa chỉ cho người cho vay là ông Trần Văn H địa chỉ cư trú của ông Phạm Văn L là: M Lâm Đồng. Tuy nhiên, hiện nay ông Phạm Văn L không có mặt tại địa chỉ trên và không thông báo cho ông Trần Văn H biết về nơi cư trú, làm việc mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật dân sự thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung. Do đó theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 6 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ – tỉnh Lâm Đồng. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Đ – tỉnh Lâm Đồng thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.

Về thủ tục tố tụng: Quá trình tố tụng giải quyết vụ án, Toà án đã thực hiện các phương thức tống đạt quy định tại Điều 177, Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự để thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập để làm việc, triệu tập đương sự tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa cho bị đơn tuy nhiên bị đơn ông Phạm Văn L (tên gọi khác: L) không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện. Ngoài ra bị đơn ông Phạm Văn L (tên gọi khác: L) cũng không cung cấp chứng cứ cho Toà án, không đến Tòa theo đúng thời gian triệu tập, không gửi văn bản có ghi ý kiến cho Tòa án. Bị đơn ông Phạm Văn L (tên gọi khác: L) đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, vì vậy Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Phạm Văn L (tên gọi khác: L) là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn H thì thấy rằng:

Đi với bản chính giấy biên nhận ngày 18/02/2017 được lập thành văn bản có chữ viết và chữ ký của ông Phạm Văn L (tên gọi khác: L) về số tiền vay, thời hạn trả nợ là phù hợp với các quy định tại Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật dân sự nên có hiệu lực pháp luật.

Theo bản chính giấy biên nhận ngày 18/02/2017 mà nguyên đơn ông Trần Văn H cung cấp thì ông Phạm Văn L (tên gọi khác: L) có mượn của ông Trần Văn H số tiền là 100.000.000đ (một trăm triệu đồng), thời hạn là 3 tháng ông Phạm Văn L sẽ thanh toán gốc, lãi cho ông Hưởng tuy nhiên giấy biên nhận ngày 18/02/2017 không xác định rõ lãi suất, dưới giấy biên nhận có chữ ký của ông Phạm Văn L. Về phía bị đơn ông Phạm Văn L (tên gọi khác: L) thì ngay từ khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn ông Phạm Văn L (tên gọi khác: L) vắng mặt trong suốt quá trình tòa án giải quyết vụ án và tại phiên tòa mà không có lý do, ông Phạm Văn L (tên gọi khác: L) cũng không gửi cho Tòa án văn bản nêu ý kiến của mình về nội dung vụ án thể hiện việc từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình và ý chí để mặc hậu quả xảy ra. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào chứng cứ và lời khai của nguyên đơn để xem xét theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Theo trình bày của nguyên đơn thì vào ngày 18/02/2017 ông Trần Văn H có cho ông Phạm Văn L (tên gọi khác: L) vay số tiền là 100.000.000đ (một trăm triệu đồng), thời hạn vay là 03 tháng tính từ ngày 18/02/2017 thì ông Phạm Văn L phải thanh toán gốc và lãi cho ông Trần Văn H, lãi suất thỏa thuận miệng là 1%/1 tháng. Khi vay tiền ông Phạm Văn L (tên gọi khác: L) có viết và ký 01 giấy biên nhận ngày 18/02/2017. Đến hẹn trả nợ thì ông Phạm Văn L không trả nợ gốc và lãi cho ông Trần Văn H. Nay ông Trần Văn H xác nhận ông Phạm Văn L (tên gọi khác: L) còn nợ ông Trần Văn H số tiền gốc là 100.000.000đ (một trăm triệu đồng), căn cứ vào Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật dân sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn H cần buộc ông Phạm Văn L (tên gọi khác: L) phải có nghĩa vụ trả cho ông Trần Văn H số tiền gốc đã vay là 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) là có cơ sở và đúng pháp luật.

[3] Về tiền lãi: Giấy biên nhận ngày 18/02/2017 có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng không xác định rõ lãi suất ngày, thời hạn vay là 03 tháng như vậy thời hạn vay trong hạn là 03 tháng từ ngày 18/02/2017 đến ngày 18/5/2017, từ ngày ngày 19/5/2017 đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 22/5/2019 là quá hạn. Ông Trần Văn H yêu cầu ông Phạm Văn L (tên gọi khác: L) phải trả cho ông Trần Văn H số tiền lãi từ ngày 18/02/2017 đến ngày 22/5/2019 là 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) x 0,83%/1 tháng x 27 tháng = 22.410.000đ (hai mươi hai triệu bốn trăm mười ngàn đồng) thì căn cứ vào Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật dân sự, Điều 5 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm thì Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn H cần buộc ông Phạm Văn L (tên gọi khác: L) phải có nghĩa vụ trả cho ông Trần Văn H số tiền lãi là 22.410.000đ (hai mươi hai triệu bốn trăm mười ngàn đồng) là có cơ sở và đúng pháp luật.

[5] Về án phí sơ thẩm:

Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ vào Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thuờng vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016;

Do yêu cầu của nguyên đơn ông Trần Văn H được chấp nhận toàn bộ nên ông Trần Văn H không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm là đúng pháp luật.

Ông Phạm Văn L (tên gọi khác: L) phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là: 122.410.000đ (một trăm hai mươi hai triệu bốn trăm mười ngàn đồng) x 5% = 6.120.500đ (Sáu triệu một trăm hai mươi ngàn năm trăm đồng) là đúng pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 357, 463, 466 và Điều 468 của Bộ luật dân sự;

Căn cứ vào Điều 5 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Căn cứ vào Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016;

Căn cứ vào Điều 6 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn H đối với bị đơn ông Phạm Văn L (tên gọi khác: L) về việc tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản.

Buộc ông Phạm Văn L (tên gọi khác: L) phải có nghĩa vụ trả cho ông Trần Văn H số tiền là 122.410.000đ (một trăm hai mươi hai triệu bốn trăm mười ngàn đồng) trong đó tiền gốc là 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) và tiền lãi tính từ ngày 18/02/2017 đến ngày 22/5/2019 là 22.410.000đ (hai mươi hai triệu bốn trăm mười ngàn đồng).

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường họp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Về án phí:

Ông Phạm Văn L (tên gọi khác: L) phải nộp số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 6.120.500đ (Sáu triệu một trăm hai mươi ngàn năm trăm đồng).

Ông Trần Văn H không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông Trần Văn H số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà ông Trần Văn H đã nộp là 3.025.000đ (Ba triệu không trăm hai mươi lăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2015/0007690 ngày 12/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ - tỉnh Lâm Đồng.

3. Quyền kháng cáo:

Đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án hôm nay (ngày 22/5/2019). Đối với các đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết để yêu cầu để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


17
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về