Bản án 02/2019/DS-ST ngày 11/04/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH

BẢN ÁN 02/2019/DS-ST NGÀY 11/04/2019 VỀ LY HÔN

Trong ngày 11 tháng 4 năm 2019, tại Trụ sở Toàán nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 80/2018/TLST - HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2018 về việc ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2019/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 01 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hoa H, sinh năm 1990

Nơi ĐKNKTT: Tiểu khu Đ, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình

Hiện tạm trútại: Thôn T, xãT, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình "cómặt" Bị đơn: Anh Nguyễn Thế A, sinh năm 1987

Địa chỉ: Tiểu khu Đ, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình “vắng mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn ngày 20/09/2018, tại bản tự khai ngày 06/11/2018 và tại phiên toà chị Nguyễn Thị Hoa Hồng trình bày:

Chị và anh Nguyễn Thế A tìm hiểu vàkết hôn với nhau hoàn toàn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Đ vào ngày 28/01/2011. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau tại gia đình nội ở thị trấn Đ, quá trình chung sống hạnh phúc nhưng đến giữa năm 2016 vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn vì quan điểm trong cuộc sống của hai người khác nhau, các vấn đề luôn không đồng thuận, tính cách không hợp nhau, vợ chồng thiếu tin tưởng, thiếu quan tâm đến nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn nên hai vợ chồng sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Thời gian vợ chồng sống ly thân thì anh Nguyễn Thế A đi làm ăn ở xa còn chị H thì sinh sống và làm việc tại thành phố Đ. Hiện nay tình cảm vợ chồng thực sự không còn nên chị Hồng có nguyện vọng xin ly hôn.

Về con chung của vợ chồng: Vợ chồng có 01 người con chung là Nguyễn Quyết T, sinh ngày 01/7/2011. Sau khi ly hôn thì chị Nguyễn Thị Hoa H có nguyện vọng được nuôi con và yêu cầu anh Nguyễn Thế A cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng.

Về tài sản chung của vợ chồng: Vợ chồng không có tài sản vànợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 06/11/2018 anh Nguyễn Thế A trình bày:

Anh và chị Nguyễn Thị Hoa H kết hôn với nhau vào ngày 28/01/2011 trên cơ sở hai bên tự nguyện không bị ai ép buộc, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Đ, sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống với nhau tại nhànội ở tiểu khu Đ thị trấn Đ. Quá trình vợ chồng chung sống cùng nhau có phát sinh nhiều mâu thuẫn từ cuối năm 2016 vì quan điểm sống khác nhau, vợ chồng không hòa hợp, không đồng thuận dẫn đến mất tình cảm, vợ chồng đã sống ly thân từ thời gian đó cho đến nay. Nhưng hiện nay tình cảm của anh Nguyễn Thế A đối với chị Hồng vẫn còn nên nguyện vọng được Tòa án hòa giải để cả hai cùng khắc phục mâu thuẫn quay lại chung sống, cùng nhau nuôi dạy con cái.

Về con chung của vợ chồng: Hai người có 01 con chung là Nguyễn Quyết T, sinh ngày 01/7/2011. Trường hợp vợ chồng ly hôn thì anh Nguyễn Thế A có nguyện vọng được nuôi con.

Về tài sản chung của vợ chồng: Hai bên sẽ tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản khai của cháu Nguyễn Quyết T trình bày:

Hiện tại cháu đang học lớp 2 tại Trường tiểu học số 2 Đ, thành phố Đ, cháu đang chung sống cùng mẹ là Nguyễn Thị Hoa H. Nay bố mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng được ở với mẹ.

Toà án đã tiến hành giải quyết vụ án vàhoàgiải nhiều lần nhưng không đạt kết quả. Về quan hệ hôn nhân anh chị Nguyễn Thị Hoa H vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn, anh Nguyễn Thế A cónguyện vọng đoàn tụ. Về con chung, trường hợp ly hôn thìchị Nguyễn Thị Hoa H vàanh Nguyễn Thế A thỏa thuận giao con Nguyễn Quyết T, sinh ngày 01/7/2011 cho chị Nguyễn Thị Hoa H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh Nguyễn Thế A cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng. Về tài sản, hai bên tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 07/01/2019 Tòa án đã tiến hành xác minh tại nhàbàNguyễn Thị L (là mẹ đẻ của anh Nguyễn Thế A). Bà Lan cho biết anh Nguyễn Thế A làcon trai của bà, có hộ khẩu thường trú tại tiểu khu Đ, thị trấn Đ, hiện nay anh A đang công tác tại miền nam, không cómặt ở địa phương.

Về hôn nhân giữa anh Nguyễn Thế A vàchị Nguyễn Thị Hoa H thì hai bên kết hôn tự nguyện, sau khi kết hôn chung sống với nhau được tám năm tại nhànội, khoảng hai năm trở lại đây vợ chồng có dấu hiệu mâu thuẫn và vợ chồng ít khi về nhà, hai vợ chồng thường xuyên sống xa nhau. Hiện nay nếu mâu thuẫn của anh A và chị H không thể khắc phục được thì gia đình cũng đồng ý để vợ chồng ly hôn.

Về con chung, cómột con chung là Nguyễn Quyết T, sinh ngày 01/7/2011 đang sống với chị H tại thành phố Đ, sau khi ly hôn để cho chị Nguyễn Thị Hoa H trực tiếp nuôi con là hợp lý vì con còn nhỏ và cháu cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Về tài sản thì hai vợ chồng tự thỏa thuận với nhau, gia đình không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toàvàkết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

 [1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hoa H vàanh Nguyễn Thế A kết hôn với nhau hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn hợp pháp. Bước đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc nhưng được một thời gian thìxảy ra mâu thuẫn do vợ chồng không hợp tính nhau, không cùng chung quan điểm sống, vợ chồng không có sự đồng thuận vàthiếu quan tâm, tin tưởng lẫn nhau dẫn đến mâu thuẫn kéo dài và đã sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Tòa án đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng không đạt kết quả, tại phiên tòa anh Nguyễn Thế A vắng mặt không cólýdo mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, Tòa án đã niêm yết thông báo xét xử và giấy triệu tập đối với anh Nguyễn Thế A tại UBND thị trấn Đ.

Xét thấy nguyện vọng xin đoàn tụ của anh Nguyễn Thế A là chính đáng nhưngđiều kiện thực tế vợ chồng sống ly thân mỗi người mỗi nơi, hai vợ chồng cũng thiếu quan tâm đến nhau, không khắc phục được những mâu thuẫn để đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy con cái, mặt khác nguyện vọng xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Hoa H vìtình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn giữa hai người đã trầm trọng, thời gian vợ chồngsống ly thân đã lâu, mục đích hôn nhân không đạt được là đúng thực tế nên cần chấp nhận nguyện vọng của chị Nguyễn Thị Hoa H.

Vì vậy cần áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xử cho chị Nguyễn Thị Hoa H được ly hôn vắng mặt anh Nguyễn Thế A.

 [2] Về nuôi con chung của vợ chồng: Chị Nguyễn Thị Hoa H vàanh Nguyễn Thế A cómột con chung làNguyễn Quyết T, sinh ngày 01/7/2011 hiện nay cháu đang sống với mẹ. Quátrình hòa giải chị Hồng vàanh A thỏa thuận sau khi ly hôn giao con cho chị Hồng nuôi dưỡng và anh A có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng. Xét thấy việc thỏa thuận của hai vợ chồng làhoàn toàn tự nguyện và phùhợp với quy định của pháp luật, vìvậy cần áp dụng Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình giao cháu Nguyễn Quyết T, sinh ngày 01/7/2011 cho chị NguyễnThị Hoa H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Thế A cótrách nhiệm cấpdưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng kể từ tháng 4 năm 2019 đến khi con đủ 18 tuổi.

 [3] Về tài sản chung của vợ chồng: Chị Nguyễn Thị Hoa H vàanh Nguyễn Thế A tự thỏa thuận phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết, vìvậy Hội đồng xét xử không xem xét.

 [4] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hoa H phải chịu án phídân sự sơ thẩm. AnhNguyễn Thế A phải chịu án phícấp dưỡng nuôi con.

 [5] Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hoáphát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán và Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án đã áp dụng đúng quy định của pháp luật và tại phiên toà Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự đảm bảo quyền lợi của các đương sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xử cho chị Nguyễn Thị Hoa H được ly hôn vắng mặt anh Nguyễn Thế A. Áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 107, Điều 110 và Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình xử giao cháu Nguyễn Quyết T, sinh ngày 01/7/2011 cho chị Nguyễn Thị Hoa H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Thế A có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con hàng tháng. Về án phícác bên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vìcác lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1. Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xử chị Nguyễn Thị Hoa H ly hôn vắng mặt anh Nguyễn Thế A.

2. Về nuôi con chung của vợ chồng: Áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cháu Nguyễn Quyết T, sinh ngày 01/7/2011 cho chị Nguyễn Thị Hoa H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Thế A có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đ (hai triệu đồng) kể từ tháng 4 năm 2019 đến khi con đủ 18 tuổi.

Không ai được ngăn cản việc đi lại, chăm sóc con chung, khi cần thiết vìlợi ích của con thìmột trong hai bên cóquyền làm đơn yêu cầu Toà án thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về chia tài sản chung vànợ chung của vợ chồng: Hai vợ chồng tự thỏa thuận không yêu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí:

Chị Nguyễn Thị Hoa H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Chị Nguyễn Thị Hoa H đã nộp tạm ứng án phídân sự sơ thẩm 300.000 đồng theo biên lai số 0003670 ngày 04/10/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện

Tuyên Hoá nay được khấu trừ, chị H đã nộp đủ án phí.

Án phí cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Thế A phải chịu 300.000 đồng.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Tuyên bố nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 11/4/2019). Đối với bị đơn vắng mặt thời hạn trên tính từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết bản án nơi cư trú.


45
Bản án/Quyết định được xét lại
 
Văn bản được dẫn chiếu
 
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 02/2019/DS-ST ngày 11/04/2019 về ly hôn

Số hiệu:02/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tuyên Hóa - Quảng Bình
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 11/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về