Bản án 02/2019/DS-ST ngày 08/01/2019 về tranh chấp hụi

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 02/2019/DS-ST NGÀY 08/01/2019 VỀ TRANH CHẤP HỤI

Trong ngày 18 tháng 12 năm 2018 và ngày 08 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 364/2018/TLST-DS, ngày 10 tháng 10 năm 2018 về việc tranh chấp hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 834/2018/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 11 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Khoa N; cư trú tại ấp Xóm M, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu.

Người đại diện theo ủy quyền: Anh Lê Trung T; cư trú tại ấp Xóm M, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu theo văn bản ủy quyền ngày 15/10/2018 (có mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Duy K; cư trú tại số 252, đường L, khóm A, phường B, thành phố C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tháng 8/2016, anh Nguyễn Duy K có tham gia chơi 02 chân hụi do chị Nguyễn Thị Khoa N làm chủ, loại hụi 1.000.000đ, tháng khui một lần, dây hụi có 25 chân. Quá trình góp hụi, anh K hốt hai chân hụi ở kỳ hụi thứ 2, thứ 3 và góp hụi chết đến tháng 7/2018 thì ngưng, còn nợ lại 01 kỳ hụi của hai chân hụi chết với số tiền 2.000.000đ; Tiếp tục tháng 6/2017, anh K tham gia chơi 01 chân hụi do chị N làm chủ, loại hụi 1.000.000đ, tháng khui một lần, dây hụi có 22 chân. Quá trình góp hụi, anh K hốt chân hụi vào tháng 8/2017 và góp hụi chết đến tháng 7/2018 thì ngưng, còn nợ lại 08 kỳ hụi chết với số tiền 8.000.000đ; Cũng vào tháng 02/2018, anh K tiếp tục tham gia chơi 01 chân hụi do chị N làm chủ, loại hụi 1.000.000đ, tháng khui một lần, dây hụi có 26 chân. Quá trình góp hụi, anh K hốt chân hụi vào tháng 4/2018 và góp hụi chết đến tháng 7/2018 thì ngưng, còn nợ lại 20 kỳ hụi chết với số tiền 20.000.000đ. Mặc dù, chị N đã đòi nhiều lần nhưng anh K cố tình tránh né không góp lại hụi chết nên chị N khởi kiện yêu cầu anh K trả một lần số tiền hụi chết còn nợ ở ba dây hụi trên với số tiền là 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng). Ngoài ra, chị N không yêu cầu thêm khoản nào khác. Đối với anh Nguyễn Duy K (bị đơn), trong thời gian giải quyết vụ án tuy đã được Toà án triệu tập hợp lệ, song anh K vẫn vắng mặt không rõ lý do nên Toà án tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Tranh chấp giữa nguyên và bị đơn được xác định là tranh chấp hụi. Quá trình thực hiện thỏa thuận, bị đơn không thực hiện nghĩa vụ góp hụi cho nguyên đơn nên giữa các đương sự xảy ra tranh chấp.

[2] Xét nội dung tranh chấp, Hội đồng xét xử thấy rằng việc chơi hụi giữa các đương sự có lập danh sách hụi viên tuy không đăng ký, không được chứng thực của cơ quan có thẩm quyền nhưng theo lời trình bày của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn tại phiên tòa thể hiện mục đích nguyên đơn đứng ra tổ chức việc chơi hụi nhằm tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các đồng nghiệp trong Công ty để cải thiện đời sống kinh tế gia đình bởi những hụi viên tham gia chơi hụi trong đó có cả bị đơn, nguyên đơn đều là công nhân của Công ty TNHH một thành viên chế biến thủy hải sản XNK Thiên P và danh sách này được nguyên đơn cung cấp có chữ ký xác nhận của các hụi viên tham gia chơi hụi. Mặc dù, việc giao tiền hốt hụi bị đơn có ký nhận nhận tiền trong giấy giao hụi nhưng sau khi hốt được hụi, bị đơn chỉ góp hụi chết đến tháng 07/2018 thì ngưng không góp nên gây rất nhiều khó khăn cho nguyên đơn, làm ảnh hưởng đến lòng tin của các hụi viên khác. Tuy trong các dây hụi bị đơn tham gia, có dây hụi chưa đến ngày mãn hụi nhưng do bị đơn vị phạm nghĩa vụ nhiều lần nên nguyên đơn không đồng ý để bị đơn tiếp tục thực hiện nghĩa vụ cho đến ngày mãn hụi. Riêng bị đơn đã được triệu tập hợp lệ, song vẫn vắng mặt không rõ lý do và trong thời gian giải quyết vụ án, bị đơn không đến Toà, không gửi văn bản ý kiến hay cung cấp tài liệu, chứng cứ để phản bác hoặc phản tố đối với yêu cầu khởi kiện cũng như lời trình bày của nguyên đơn về việc nợ hụi với số tiền là 30.000.000đ. Do đó, lời trình bày của nguyên đơn về thời gian mở hụi, số lượng hụi viên tham gia trong 03 dây hụi trên, số chân hụi bị đơn tham gia và đã hốt cũng như thời gian bị đơn ngưng góp hụi, số tiền hụi bị đơn hiện còn nợ nguyên đơn là có căn cứ. Bên cạnh đó, chính việc bị đơn vắng mặt không chỉ thể hiện sự từ bỏ quyền tự thương lượng, thỏa thuận và bảo vệ quyền dân sự của bị đơn mà còn cho thấy bị đơn không có thiện chí trả nợ nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.

[3] Về thời gian thanh toán, nguyên đơn có yêu cầu bị đơn trả một lần hết số tiền nợ nhưng việc thanh toán thuộc thẩm quyền giải quyết của Cơ quan thi hành án sau khi bản án có hiệu lực nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét trong vụ án.

[4] Về thủ tục tố tụng, bị đơn đã được thông báo, triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do nên căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, Toà án tiến hành xét xử vụ án.

[5] Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, bị đơn phải chịu. Nguyên đơn không phải chịu, số tiền tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp được trả lại.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 471, 468 của Bộ luật Dân sự.

Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Khoa N.

Buộc anh Nguyễn Duy K trả cho chị Nguyễn Thị Khoa N số tiền là 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng).

Kể từ ngày chị Nguyễn Thị Khoa N có đơn yêu cầu thi hành án, anh Nguyễn Duy K không tự nguyện thi hành xong, thì phải trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.

- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

Anh Nguyễn Duy K phải nộp số tiền là 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng - chưa nộp).

Chị Nguyễn Thị Khoa N không phải nộp. Ngày 09/10/2018, chị Nguyễn Thị Khoa N đã nộp số tiền tạm ứng án phí là750.000đ (bảy trăm năm chục nghìn đồng) theo biên lai số 0001475 được trả lại toàn bộ cho chị N.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Chị N được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh K được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc bản án được niêm yết.


81
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 02/2019/DS-ST ngày 08/01/2019 về tranh chấp hụi

Số hiệu:02/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 08/01/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về