Bản án 02/2018/HS-ST ngày 30/01/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HOÁ

BẢN ÁN 02/2018/HS-ST NGÀY 30/01/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 30 tháng 01 năm 2018, tại Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnhThanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 01/2018/HSST ngày 10 tháng 01 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2018/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:

Cù Như L, sinh năm 1997; Tại: HN, HT, Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn A, xã HN, huyện HT, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: ViệtNam; Con ông Cù Như B và bà Lê Thị T; Vợ, con: Chưa; Tiền sự: Không; Tiền án: 01 tiền án, ngày 10/6/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, chấp hành xong bản án ngày 04/02/2017; Nhân thân: Ngày 20/4/2015 bị Công an huyện HT, tỉnh Thanh Hóa xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tạm giữ từ ngày 03/10/2017 đến ngày 09/10/2017 chuyển tạm giam cho đến nay; Có mặt.

Người chứng kiến: Anh Hoàng Văn L, sinh năm 1982;

Trú tại: Tiểu Khu X, thị trấn HT, huyện HT, tỉnh Thanh Hóa.

Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 03/10/2017, tại Tiểu khu 3, thị trấn HT, huyện HT, tỉnh Thanh Hóa; Tổ công tác phồng chống tội phạm về ma túy Công an huyện HT, tỉnh Thanh Hóa phối hợp với Công an thị trấn HT đi tuần phát hiện Cù Như L, sinh năm 1997 ở thôn 10 xã HN, huyện HT, tỉnh Thanh Hóa có biểu hiện nghi vấn; Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra phát hiện và thu giữ ở túi quần sau bên phải của L đang mặc 01 ví da, bên trong có 140.000đ (Một trăm bốn mươi nghìn đồng) và01 gói nhỏ được bọc bằng giấy trắng, dạng phong bì thư, bên trong chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn nghi là ma túy; thu giữ trong túi quần bên trái của L đang mặc 01 cờ lê 8 nhãn hiệu Yeti.USA, 01 cờ lê 10-12 nhãn hiệu ATC, 01 chìa khóa xe máy; 01 Thanh kim loại hình trụ dài khoảng 10cm một đầu được mài dẹt; L khai nhận gói chất bột màu trắng là Hêrôin mua về để sử dụng; Tổ công tác đưa L về Công an thị trấn HT lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong gói nghi là ma túy đã thu giữ.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Cù Như L khai nhận: Do nghiện ma túy nên khoảng 07 giờ, ngày 03/10/2017 Cù Như L đi xe Buyt từ thành phố Thanh Hóa về ngã ba thôn Thượng Quý xã Hà Phong, huyện HT tìm mua ma túy để sử dụng. L gặp một người thanh niên khoảng 20 tuổi không quen biết, L hỏi mua200.000đ ma túy, người thanh niên cầm tiền và đưa cho L một gói nhỏ được bọcbằng giấy dạng phong bì thư, L cầm gói ma túy bỏ vào túi quần sau bên phải đangmặc, rồi đi bộ ra bến xe Buyt trước cổng Ủy ban nhân dân thị trấn HT để bắt xeBuyt thì bị Công an kiểm tra phát hiện thu giữ gói ma túy, 01 ví da bên trong có140.000đ, 01 cờ lê 8 nhãn hiệu Yeti.USA, 01 cờ lê 10-12 nhãn hiệu ATC, 01 chìa khóa xe máy, 01 Thanh kim loại hình trụ dài khoảng 10cm một đầu được mài dẹt các vật dụng này L khai là nhặt được ở trên đường đi; Công an đã đưa L về Công an thị trấn HT lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại bản kết luận giám định số 2140/MT-PC54 ngày 06/10/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Chất bột màu trắng ngà dạng cục của phong bì niêm phong mặt trước ghi “A vụ Cù Như L” gửi giám định là ma túy, có trọng lượng 0,233g (Không phẩy hai ba ba gam) loại: Heroine.

Tại bản cáo trạng số 05/CT-VKS ngày 10/01/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện HT, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố Cù Như L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên toà, đại diện VKSND giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng: điểm c khoản 1, Điều 249, khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48, Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999. Xử phạt Cù Như L từ 21 đến 24 tháng tù. Đề nghị áp dụng điều 42 Bộ luật hình sự 1999, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy toàn bộ chất ma túy là Hêrôin là mẫu vật còn lại sau giám định, trả lại 01 ví da và 140.000đ đã thu giữ cho bị cáo, các vật dụng khác bị cáo không yêu cầu lấy lại và đã cũ giá trị sử dụng không còn nên tịch thu tiêu hủy.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng;

Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Cù Như L đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp; Hội đồng xétxử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 9 giờ 00 phút ngày 03/10/2017, trước cổng Ủyban nhân dân thị trấn HT, thuộc Tiểu khu X thị trấn HT, huyện HT, tỉnh Thanh Hóa, Cù Như L đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,233g (Không phẩy hai ba ba gam) loại: Heroine, nhằm mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng tang vật. Như vậy hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuấttrái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”, nhưng tại khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999 quy định “Ngườinào tàng trữ vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”a..., b...,c Heroine, coocain,... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.

Do đó khi quyết định hình phạt nên căn cứ vào hướng dẫn của Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội và quy định tại khoản 3 Điều 7 và điều khoản có lợi của BLHS năm 2015 đối với bị cáo. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HT giữ nguyên quyết định truy tố Cù Như L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị áp dụng, điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015, Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội để quyết định hình phạt cho bị cáo là đúng pháp luật.

[3]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi của bị cáo: Bị cáo phạm vào tội nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, tội mà toàn xã hội lên án mạnh mẽ và kiên quyết đấu tranh để ngăn chặn, đẩy lùi bởi tác hại của nó đối với giống nòi, đối với trật tự an toàn xã hội, với cuộc sống bình yên của chính gia đình bị cáo. Tệ nạn ma túy làm ảnh hưởng lớn đến các chính sách phát triển kinh tế của nhà nước, việc đấu tranh với tội phạm ma túy hiện nay là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Nhà nước đang có nhiều chủ trương, chính sách để bài trừ tệ nạn này. Bản thân bị cáo là đối tượng nghiện ma túy có nhân thân xấu, đang có 01 tiền án, vừa mới ra tù, bị cáo không lấy đó là bài học cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội; Vì vậy cần phải xử lý nghiêm, áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm giáo dục riêng, đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Bị cáo đang có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự. Nên xem xét một mức án phù hợp, tương xứng tính chất hành vi phạm tội của bị cáo như đề nghị của đại diện Viện viện kiểm sát tại phiên tòa.

Thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam được tính vào thời gian chấp hành hình phạt.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 và khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 cùng quy định “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm” do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy, bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập, đang ở cùng gia đình, là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản riêng, số lượng chất ma túy tàng trữ không lớn và không nhằm mục đích kiếm lời. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6]. Về xử lý vật chứng: Toàn bộ chất ma túy còn lại là mẫu vật sau giám định là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy; 01 ví da, 140.000đ và một số vật dụng là tài sản cá nhân không liên quan đến việc phạm tội, đang còn giá trị sử dụng nên trả lại cho bị cáo.

[7]. Về nguồn gốc số ma túy bị cáo ma túy của người thanh niên khoảng 20 tuổi không quen biết ở ngã ba thôn Thượng Quý, xã Hà Phong, huyện HT, tỉnh Thanh Hóa; Quá trình điều tra Cơ quan điều tra và tại phiên tòa không xác định được danh tính, địa chỉ của người này nên không có cơ sở điều tra mở rộng vụ án.

[8]. Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Cù Như L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48, Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999.

Xử phạt: Cù Như L 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giữ (Ngày 03/10/2017).

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 42 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm a ,điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Tịch thu tiêu hủy toàn bộ mẫu vật còn lại sau giám định (Theo biên bản giao nhận mẫu vật saugiám định giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện HT và Chi cục Thi hànhán dân sự huyện HT ngày 24/01/2018). Trả lại cho bị cáo: 01 ví da và 140.000đ(Một  trăm  bốn  mươi  nghìn  đồng)  theo  biên  lai  thu  tiền  sốAA/2010/007282 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện HT ngày 24/01/2018.

Tịch thu tiêu hủy 01 cờ lê 8 nhãn hiệu Yeti.USA, 01 cờ lê 10-12 nhãn hiệu ATC, 01 chìa khóa xe máy; 01 thanh kim loại hình trụ dài khoảng 10cm một đầu được mài dẹt

3. Về án phí: Áp dụng: Khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng  hình  sự;  Điều  6,  Điều  21,  khoản  1  Điều  23 Nghị  Quyết  số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, bị cáo Cù Như L phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


111
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về