Bản án 02/2018/HNGĐ-ST ngày 29/06/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn 

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TƠ, TỈNH QUẢNG NGÃI

BẢN ÁN 02/2018/HNGĐ-ST NGÀY 29/06/2018 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Ngày 29 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 17/2018/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2018, về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2018/QĐXXST- HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2018, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Bích H- Sinh năm 1980;

Địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.

* Bị đơn: Anh Huỳnh Ngọc A – Sinh năm 1969;

Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi.

Nơi cư trú cuối cùng: Tổ dân phố Đ, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi. Chị H có mặt tại phiên tòa, anh A đã bị Tòa án tuyên bố mất tích;

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 05/4/2018 và trong quá trình xét xử nguyên đơn chị Phạm Thị Bích H trình bày:

Chị H và anh A kết hôn vào ngày 28/8/2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng sau đó xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống dẫn đến thường xuyên cãi vả nhau, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được. Đến tháng 02/2015 anh A bỏ nhà, bỏ địa phương đi từ đó đến nay không về lại địa phương, mặc dù chị H đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm anh A nhưng vẫn không có tin tức gì của anh A. Sau đó, chị H nộp đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố anh A mất tích, Tòa án đã thụ lý và ban hành Quyết định giải quyết việc dân sự số 01/2018/QĐDS-ST ngày 23/3/2018 tuyên bố anh Huỳnh Ngọc A mất tích. Nay chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh A.

- Về con chung: Chị H và anh A có 01 người con chung tên là Phạm Huỳnh Hương L- Sinh ngày 26/5/2015 (từ khi được sinh ra cho đến nay, cháu sống cùng chị H tại tổ dân phố B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi). Nay anh A đã mất tích nên chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được nuôi cháu L, việc cấp dưỡng nuôi con chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Huỳnh Ngọc A bị Tòa án nhân dân huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi tuyên bố mất tích theo Quyết định giải quyết việc dân sự số 01/2018/QĐDS-ST ngày 23/3/2018 đến nay vẫn không có tin tức gì.

* Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm Phán, Hôị đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng, trong quá trình giải quyết vụ án: Căn cứ theo quy định tại Điều 28, 35, và 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Thẩm phán thụ lý đúng thẩm quyền, Chánh án ra quyết định phân công Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm nhân dân đúng quy định; Thẩm phán xác định tư cách người tham gia tố tụng, tiến hành xác minh thu thập chứng cứ, tống đạt các văn bản tố tụng của Toà án, tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Thời hạn chuẩn bị xét xử đúng theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề nghị:

Hội đồng xét xử áp dụng:  Các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016;

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Phạm Thị Bích H được ly hôn với anh Huỳnh Ngọc A.

- Về con chung: Giao con chung là cháu Phạm Huỳnh Hương L- Sinh ngày 26/5/2015 cho chị Phạm Thị Bích H tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Việc cấp dưỡng nuôi con chị H không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về án phí: Chị Phạm Thị Bích H phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Bị đơn anh Huỳnh Ngọc A có đăng ký hộ khẩu tại tổ dân phố Đ, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Bích H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi.

[2] Tại phiên tòa hôm nay bị đơn anh Huỳnh Ngọc A vắng mặt, tuy nhiên, anh A đã bị Tòa án nhân dân huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi tuyên bố mất tích theo Quyết định giải quyết việc dân sự số 01/2018/QĐDS-ST ngày 23/3/2018 và đến nay vẫn không có tin tức gì. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

-Nội dung vụ án:

[3] Quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị Bích H và anh Huỳnh Ngọc A được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn B, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn trầm trọng nên anh A bỏ nhà, bỏ địa phương đi từ tháng 02/2015 đến nay không có tin tức gì. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà hôm nay chị H xác nhận sau khi phát sinh mâu thuẫn thì đời sống chung không hạnh phúc nên yêu cầu được ly hôn với anh Huỳnh Ngọc A để ổn định cuộc sống. Xét thấy, anh A đã bỏ đi từ tháng 02/2015 đến nay không chung sống với chị H và cũng không có mặt tại nơi cư trú, không có tin tức gì kể từ khi Tòa án tuyên bố anh A mất tích cho đến nay, thể hiện vợ chồng không có sự yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mục đích hôn nhân giữa chị H và anh A không đạt được và chị H, anh A cũng không thể chung sống đoàn tụ được nên yêu cầu ly hôn của chị H là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về con chung: Cháu Phạm Huỳnh Hương L, sinh ngày 26/5/2015, từ khi sinh ra đến nay cháu L sinh sống cùng chị H, anh A đã bỏ đi không còn quan tâm, chăm sóc con chung nên Hội đồng xét xử xét thấy giao cháu L cho chị H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Anh Huỳnh Ngọc A có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Việc cấp dưỡng nuôi con chị H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[6] Ý kiến của kiểm sát viên về tố tụng và nội dung vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về án phí sơ thẩm: Chị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

 Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1, Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 235, Điều 266, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Bích H và anh Huỳnh Ngọc A.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung Phạm Huỳnh Hương L, sinh ngày 26/5/2015 cho chị Phạm Thị Bích H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Huỳnh Ngọc A có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Các đương sự có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, vì lợi ích của con, nếu thấy người trực tiếp nuôi con không bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con.

3. Về án phí: Chị Phạm Thị Bích H phải chịu số tiền 300.000đ  (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) mà chị H đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 011341 ngày 18 tháng 4 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi.

Trường hợp bản án, Quyết định được Thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


74
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 02/2018/HNGĐ-ST ngày 29/06/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn 

Số hiệu:02/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Ba Tơ - Quảng Ngãi
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 29/06/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về