Bản án 02/2018/DS-ST ngày 11/06/2018 về tranh chấp quyền sử dụng đất

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGUYÊN BÌNH, TỈNH CAO BẰNG

BẢN ÁN 02/2018/DS-ST NGÀY 11/06/2017 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 

Ngày 11 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2018/TLST- TCDS ngày 06 tháng 3 năm 2018 về tranh chấp quyền sử dụng đất theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2018/QĐXX-ST ngày 17 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị L

Địa chỉ: Xóm X, xã Y, huyện Z, tỉnh Cao Bằng Có mặt

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Đ - Luật sư thuộc văn phòng luật sư Nguyễn Đ thuộc đoàn luật sư tỉnh Cao Bằng. Có mặt

2. Bị đơn: Ông Hoàng Đức T1

Địa chỉ: Xóm X, xã Y, huyện Z, tỉnh Cao Bằng Có mặt

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan :

3.1 Ông Hoàng Văn T2

Địa chỉ: Xóm X, xã Y, huyện Z, tỉnh Cao Bằng Có mặt

3.2 Bà Lý Thị P

Địa chỉ: Xóm X, xã Y, huyện Z, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt (có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 21/12/2017; biên bản lấy lời khai ngày 06/3/2018; biên bản hòa giải các ngày 22/3/2018, 26/4/2018 nguyên đơn bà Hoàng Thị L trình bày:

Về nguồn gốc thửa đất tranh chấp: Năm 1996 bà L được ông Trần Nông B chuyển nhượng toàn bộ khu đất M có vị trí được ghi cụ thể trong văn tự chuyển quyền sử dụng đất lập ngày 06/01/1996 như sau:

Đông: Giáp đất của ông Hoàng Văn Phong;

Tây: Giáp núi và mương;

Nam: Giáp đất núi;

Bắc: Giáp đất và khe suối.

Diện tích đất bà L nhận chuyển nhượng với ông B gồm 07 thửa to và 03 thửa nhỏ. 07 thửa to được ghi trong văn tự chuyển quyền sử dụng đất, 03 thửa nhỏ gần suối không ghi trong văn tự. Tuy nhiên, cả khu đất M trước đó là của ông B quản lý sử dung không có tranh chấp, khi bán ông B nói 03 thửa nhỏ không cần ghi trong văn tự nhưng chuyển toàn bộ khu đất M gồm 10 thửa (07 thửa to ghi trong văn tự mua bán và 03 thửa nhỏ không ghi trong văn tự mua bán). Nguyên nhân xảy ra tranh chấp: Ông Hoàng Đức T1 cũng được ông B chuyển nhượng một khu đất có tên gọi Nà G, khu đất Nà G và khu đất M được ngăn cách bởi một con suối. Năm 2010, ông T1 cải tạo suối, dùng máy xúc đào đất Nà G lấp 01 thửa trong 03 thửa nhỏ không ghi trong văn tự và lấp suối thành một thửa đất rộng khoảng 550m2. Ông T1 đã tùy tiện cải tạo mương nước, lấp suối, đẩy đất lấn sang đất của bà L và xóa ranh giới đất giữa khu M với khu Nà G nên sảy ra tranh chấp.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 06/3/2018, biên bản hòa giải các ngày 22/3/2018, 26/4/20218 bị đơn ông Hoàng Đức T1trình bày:

Thửa đất đang tranh chấp trước đây là khu đất hoang không ai quản lý sử dụng. Từ năm 1995, ông T1tiến hành khoai hoang và cải tạo nhiều lần. Quá trình cải tạo không ai có ý kiến cũng như không sảy ra tranh chấp. Đến năm 2010, sau khi đã cải tạo xong thành một thửa ruộng rộng khoảng 550m2  (gồm một phần diện tích nắn dòng suối và một phần sườn đồi giáp suối) thì bà L tranh chấp nói đó là đất của bà L. Bà L cho rằng ông T1lấp một thửa đất nhỏ của bà L tuy nhiên khi cải tạo, gần bờ suối không có thửa đất nhỏ nào mà chỉ có một sườn đồi giáp suối, phần đất ông T1cải tạo vẫn còn cách xa đất của bà L.

Tại Bản tự khai ngày 06/3/2018, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Văn T2 trình bày: Năm 1996, mẹ ông là bà Hoàng Thị L mua với ông B khu đất M gồm 07 thửa to và 03 thửa nhỏ. 07 thửa to được ghi trong văn tự mua bán đất, 03 thửa nhỏ không ghi trong văn tự mua bán. Ông T2 không nhớ rõ khoảng năm 2012, 2014 ông được bà L giao cho quản lý sử dụng khu đất trên và đi kê khai đăng ký quyền sử dụng đất.  07 thửa lớn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông T2, 03 thửa còn lại do đang tranh chấp nên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thửa đất đang tranh chấp với ông T1là 01 trong 03 thửa đất bà L đã mua với ông B nhưng không được ghi trong văn tự mua bán đất. Ông T2 yêu cầu ông T1trả lại đất cho mẹ của ông là bà Hoàng Thị L.

Quá trình giải quyết vụ án, các bên đương sự có đơn yêu cầu Tòa án ra Quyết định xem xét thẩm định tại chỗ. Kết quả xem xét thẩm định như sau:

Đất đang tranh chấp là thửa đất số 252, nằm trong tờ bản đồ số 9, diện tích 430 m2.

Phía Đông: Dài 12,61 m giáp đất chưa sử dụng

Phía Tây: Dài 15,18 m giáp đất ruộng của ông T2 mới khai hoang

Phía Nam: Dài 32,25m giáp đất chưa sử dụng trên taly dương

Phía Bắc: Giáp suối

Khoảng cách từ bờ phía Nam của thửa đất đang tranh chấp tới thửa số 213 là 11,7m, đến bờ của thửa đất chưa sử dụng là 9m, đến bờ của thửa đất 214 l 7,5 m (thửa 213 và thửa 214 là 02 thửa đất trong số 07 thửa bà L mua với ông B có ghi trong văn tự).

Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn tại phiên tòa:

-  Về nguồn gốc đất tranh chấp: Bà L được sử dụng, quản lý toàn bộ đất liền kề với 07 thửa đã mua với ông B mặc dù không ghi trong văn tự chuyển nhượng.

-  Về yêu cầu khởi kiện: Bà L nên xem xét rút một phần yêu cầu khởi kiện, đòi phần diện tích trước đây đã nhận chuyển nhượng với ông B bị ông T1lấn chiếm không nên đòi tất cả 430m2 mà ông T1đã cải tạo.

-  Đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngưng phiên tòa để thẩm định lại phần con suối cũ trước khi ông T1tiến hành cải tạo nhằm xác định rõ diện tích tranh chấp và thu thập, xác minh thêm chứng cứ như thời gian anh T1lấp suối, quá trình quản lý, canh tác của bà L đối với 03 thửa đất bà L mua với ông B mà không ghi trong văn tự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa về thụ lý, thời hạn chuẩn bị xét xử, gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, tống đạt quyết định cho những người tham gia tố tụng vụ án đúng thời hạn theo luật định.Việc tuân theo pháp luật của hội đồng xét xử tại phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đã xác định đúng mối quan hệ tranh chấp, đúng thẩm quyền, đúng tư cách những người tham gia tố tụng.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn do không có căn cứ chứng minh 03 thửa đất không ghi trong văn tự chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc quyền quản lý sử dụng của bà L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Bà Hoàng Thị L khởi kiện ông Hoàng Đức T1về việc tranh chấp đất đai. Thửa đất tranh chấp thuộc xóm X, xã Y, huyện Z, tỉnh Cao Bằng và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Căn cứ Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nguyên Bình.

[2] Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lý Thị P: Tại phiên tòa, bà P vắng mặt. Tuy nhiên, bà đã ủy quyền cho ông Hoàng Đức T1đồng thời là bị đơn thay mặt bà tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án tại văn bản ủy quyền ngày 13/3/2018. Ngày 30/5/2018 bà P có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Hai văn bản trên được Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Z, tỉnh Cao Bằng xác nhận. Tại phiên tòa, ông T1đồng ý tiếp tục nhận ủy quyền của bà P. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử là đúng theo quy định của pháp luật.

[3] Về nội dung vụ án: Xét nguồn gốc thửa đất tranh chấp: Theo bà L thửa đất đang tranh chấp nằm trong khu đất bà đã mua với ông Trần Nông B. Tuy nhiên, tại văn tự chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 06/01/1996 giữa ông Trần Nông B và bà Hoàng Thị L ghi rõ: “Tên ruộng đất là M, gồm lớn nhỏ có 07 thửa, diện tích là 15 kilo thóc giống, phía Đông cận Hoàng Văn Phong, phí Tây cận núi và đường mương nước đi qua các thửa ruộng bên dưới, phía Nam cận núi đất, phía Bắc cận đất và khe suối”. Ngoài văn tự chuyển nhượng đất bà L không cung cấp được chứng cứ gì chứng minh 03 thửa nhỏ giáp suối là của bà mua với ông B. Như vậy Hội đồng xét xử nhận định, diện tích đất bà L mua với ông B gồm 07 thửa được ghi trong văn tự. Các phần đất tiếp giáp với 07 thửa đất văn tự không ghi giao cho bà L mà chỉ xác định tiếp giáp phần đất chuyển nhượng.

[4] Ông T1khai thửa đất đang tranh chấp là do ông tự khai hoang từ năm 1995. Phần đất ông T1cải tạo cách xa đất của bà L và không gây ảnh hưởng đến đất canh tác của bà L. Hội đồng xét xử nhận thấy, lời khai của ông T1là phù hợp với kết quả thẩm tra trong Quyết định về việc giải quyết tranh chấp đất đai số 2829/QĐ-UBND ngày 25/12/2012 của Ủy ban nhân dân huyện Nguyên Bình và Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân huyện Nguyên Bình lập ngày 26/4/2018. Phần diện tích đất tranh chấp không nằm trong phần diện tích đất ông Trần Nông B đã chuyển nhượng cho bà Hoàng Thị L. 07 thửa đất tại khu M bà L mua với ông B vẫn còn nguyên vẹn.

[5] Sau khi có Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai, Ủy ban nhân dân huyện Nguyên Bình cấp giấy chứng nhận quyền sử đất cho ông Hoàng Đức T1và bà Lý Thị P đối với thửa đất số 252, tờ bản đồ số 9 là phù hợp với các Điều 26; Điều 100; Điều 166; Điều 170; Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013.

[6] Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử nhận thấy không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của bà Hoàng Thị L do đó bác yêu cầu của L đối với thửa đất số 252, tờ bản đồ số 9. Ông Hoàng Đức T1và bà Lý Thị P được tiếp tục quản lý và sử dụng thửa đất trên theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 411451.

[7] Về án phí và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Do yêu cầu của bà L không được chấp nhận nên bà L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ theo quy định tại Điều 147, Điều 157 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Ông T1được bà L thanh toán 300.000,đ tiền tạm ứng chi phí tố tụng đã nộp.

[8] Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 26; Điều 100; Điều 166; Điều 141; Điều 170; Điều 202;Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 157; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Bác yêu cầu khởi kiện về việc tranh chấp đất đai của nguyên đơn bà Hoàng Thị L và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Văn T2, cùng trú tại: Xóm X, xã Y, huyện Z, tỉnh Cao Bằng đối với thửa đất 252, tờ bản đồ số 9, diện tích 430 m2 tại xóm X, xã Y, huyện Z, tỉnh Cao Bằng, các hướng tiếp giáp: Phía Đông và phía Nam giáp đất chưa sử dụng do Ủy ban nhân dân xã Y quản lý; phía Tây giáp đất ông T2 tự khai phá; phía Bắc giáp suối.

Ông Hoàng Văn T1 và bà Lý Thị P cùng trú tại xóm X, xã Y, huyện Z, tỉnh Cao bằng tiếp tục được quản lý, sử dụng thửa đất trên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 411451 do Ủy ban nhân dân huyện Z cấp ngày 28/6/2016.

2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Bà Hoàng Thị L phải chịu 600.000,đ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Xác nhận bà L và ông T1mỗi người đã nộp 400.000,đ tiền tạm ứng chi phí tố tụng tại Phiếu thu lập ngà 22/3/2018 và được hoàn lại 100.000,đ tại Biên bản hoàn lại tiền tạm ứng chi phí tố tụng ngày 26/4/2018. Bà L phải thanh toán cho ông T1300.000,đ.

Ông T1được bà L thanh toán 300.000,đ tiền tạm ứng chi phí tố tụng đã nộp.

3. Về án phí: Bà L phải chịu 300.000,đ án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000,đ đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AB/2012/02432 ngày 06/3/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nguyên Bình.

Án xử sơ thẩm công khai có mặt các đương sự. Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp Bản án thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hàn án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


68
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 02/2018/DS-ST ngày 11/06/2018 về tranh chấp quyền sử dụng đất

Số hiệu:02/2018/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nguyên Bình - Cao Bằng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:11/06/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về