Bản án 02/2017/HSST ngày 21/10/2017 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LAI CHÂU, TỈNH LAI CHÂU

BẢN ÁN 02/2017/HSST NGÀY 21/10/2017 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 21 tháng 10 năm 2017 tại nhà Văn hóa, phường Đoàn Kết, TP. Lai Châu, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai lưu động vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 02/2017/HSST ngày 02 tháng 10 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2017/HSST- QĐ ngày 09/10/2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hảng A X; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1996 tại tỉnh Lai Châu; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở trước khi bị bắt: Bản C, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Đạo tin lành; Con ông: Hảng A D (sinh năm 1969) và con bà Sùng Thị M (sinh năm 1973); Vợ: Ma Thị D, con: có 01 con sinh năm 2015 ; Tiền sự: không; Tiền án: có 01 tiền án, tại bản án số 62/2016/HSST ngày 01/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xử phạt Hảng A X 18 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 24/7/2017 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Lai Châu, có mặt tại phiên toà.

- Người bào chữa cho bị cáo: ông Nguyễn Công H – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lai Châu (Có mặt)

- Người bị hại: Anh Phàn Ton N, sinh năm 1998

Trú tại: Bản C, xã S, huyện T, tỉnh Lai Châu. (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Chẻo Láo L, sinh năm 1994

Trú tại: Bản C, xã S, huyện T, tỉnh Lai Châu. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Khoảng 04 giờ, ngày 23/7/2017, Hảng A X đi từ trong Bệnh viện đa khoa tỉnh Lai Châu ra cổng, thì phát hiện trên vỉa hè trước cổng bệnh viện thuộc tổ 22, phường Đông Phong, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu chiếc xe mô tô loại xe Sirius BKS 25B1- 347.09 không có người trông. Chiếc xe mô tô này là của anh Phàn Ton N mượn của anh rể là Chẻo Láo L. Quan sát không thấy có ai, nên X dùng tay lắc đầu xe thì thấy xe không khóa cổ, X liền dắt xe đi về hướng xã San Thàng, thành phố Lai Châu. Được khoảng 100m thì X dùng chìa khóa xe mô tô của mình cắm vào ổ khóa điện của chiếc xe vừa lấy trộm thì mở được khóa. Xà điều khiển xe đi qua vòng xuyến theo hướng đường tránh chợ San Thàng. Đi được một đoạn X dừng xe, tắt máy, khi mở lại thì không mở được nữa, nên X dắt và dựng xe trên vỉa hè, để đầu xe hướng ra ngoài đường đuôi xe hướng vào trong với mục đích không cho ai thấy biển số xe, rồi ngồi cạnh chiếc xe để ngủ.

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 23/7/2017, X tìm được một người thợ đánh chìa khóa qua đường và thuê đánh được một chiếc chìa khóa để mở khóa xe hết 120.000đồng. X tiếp tục điều khiển xe đến huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu để bán xe lấy tiền tiêu dùng cho bản thân thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Lai Châu phát hiện, tạm giữ xe và đưa về trụ sở Công an thành phố Lai Châu để làm việc.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo X thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.

Các vấn đề khác của vụ án:

Kết luận định giá tài sản số 19/KLĐG ngày 24/7/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Lai Châu kết luận: 01 xe máy Sirius màu xám, nhãn hiệu YAMAHA, vành đúc BKS 25B1- 347.09, số khung 32440GY005045, số máy E3X9E012799, xe đã qua sử dụng còn lại khoảng 40% giá trị sử dụng có giá trị là 21.300.000đồng x 40% = 8.520.000đồng (Tám triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận nêu trên.

Người bị hại anh Phàn Ton N, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Chẻo Láo L đều vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại Cơ quan điều tra và trong đơn xin xét xử vắng mặt đều thể hiện: các anh đã được nhận lại chiếc xe mô tô Sirius màu xám nhãn hiệu Yamaha, vành đúc BKS 25B1- 347.09 và về trách nhiệm dân sự không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì.

Bản cáo trạng số 43/KSĐT – SH ngày 30/9/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu đã truy tố bị cáo Hảng A X về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ Luật Hình sự.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo X từ 12 đến 16 tháng tù. Bị cáo phạm tội trong thời gian thử thách nên áp dụng khoản 5 Điều 60, Điều 51 Bộ luật hình sự buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và hình phạt của bản án mới. Khấu trừ cho bị cáo 41 ngày tạm giam của bản án trước. Áp dụng khoản 5 Điều 138 Bộ luật hình sự miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về trách nhiện dân sự người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nên không đặt vấn đề xem xét giải quyết. Về xử lý vật chứng của vụ án là 02 chiếc chìa khóa xe máy X dùng làm công cụ phạm tội nên áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự, điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ Luật Tố tụng Hình sự tịch thu, tiêu hủy.

Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa: Về hành vi bị cáo nhất thời phạm tội do hoàn cảnh gia đình khó khăn; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự, khoản 1 khoản 5 Điều 138 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tính ngày chấp hành hình phạt tù cho bị cáo từ ngày 23/7/2016 chứ không phải ngày 24/7/2017 vì thực tế 10 giờ 45 phút ngày 23/7/2017 bị cáo bị bắt tạm giữ ngay khi bị phát hiện chứ không phải ngày 24/7/2017.

Bị cáo nhất trí với quan điểm của người bào chữa.

Ý kiến đối đáp của đại diện viện kiểm sát với người bào chữa: Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo mà người bào chữa đề nghị giống với đề nghị của kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét; Căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/7/2017, không có tài liệu thể hiện bị cáo bị tạm giữ tại Cơ quan điều tra nên không có cơ sở tính thời hạn chấp hành hình phạt cho bị cáo từ ngày 23/7/2017.

Tại lời nói sau cùng bị cáo X thể hiện việc bị cáo nhận thức được hành vi mà bị cáo thực hiện là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của bản thân và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Khoảng 04 giờ, ngày 23/7/2017, tại vỉa hè trước cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh Lai Châu thuộc tổ 22, phường Đông Phong, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu, Hảng A X đã lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản của anh Phàn Ton N để lấy trộm 01 xe mô tô loại xe Sirius màu xám, nhãn hiệu Yamaha BKS 25B1- 347.09 có giá trị là 8.520.000đồng (Tám triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng).

Bị cáo Hảng A X là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật. Nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân và để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của bản thân bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố Lai Châu.

Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định hành vi của bị cáo Hảng A X cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản1 Điều 138 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là hoàn toàn có cơ sở, không oan sai, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Về nhân thân: Bị cáo X có nhân thân xấu, tại bản án số 62/2016/HSST ngày 01/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu bị cáo Hảng A X bị xử phạt 18 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, tuy nhiên bị cáo không lấy đó làm bài học để cải tạo bản thân thành công dân có ích cho xã hội mà lại tiếp tục phạm tội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, người bào chữa áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị kết án chưa được xóa án tích, nhưng lại phạm tội mới trong thời gian thử thách của bản án trước, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự (g. “tái phạm”).

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

Xét tại bản án số 62/2016/HSST ngày 01/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu bị cáo Hảng A X đã bị xử phạt 18 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” thời gian thử thách là 36 tháng. Ngày 23/7/2017 (trong thời gian thử thách) Hảng A X lại phạm tội mới thuộc khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần áp dụng khoản 5 Điều 60 Bộ luật hình sự buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án trước và áp dụng Điều 51 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước tổng hợp với hình phạt của bản án mới.

Xét các tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/7/2017, không có tài liệu thể hiện bị cáo bị tạm giữ tại Cơ quan điều tra từ ngày 23/7/2017, nên không có cơ sở chấp nhận đề nghị của người bào chữa về việc tính thời hạn chấp hành hình phạt cho bị cáo từ ngày 23/7/2017.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 điều 138 Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định để đảm bảo cho cuộc sống của bản thân, điều kiện kinh tế còn khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng của vụ án: 01 xe máy Sirius màu xám, nhãn hiệu YAMAHA, vành đúc BKS 25B1- 347.09, số khung 32440GY005045, số máy E3X9E012799, xe đã qua sử dụng. Trong quá trình điều tra cơ quan điều tra đã trả lại cho người bị hại là phù hợp với quy định tại Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự; Đối với 02 chiếc chìa khóa xe máy trong đó 01 chiếc dài 08 cm, có một đầu bọc nhựa màu đen, 01 chiếc dài 5,5 cm có một đầu bọc nhựa màu đen có chữ YAMAHA là công cụ để bị cáo X thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự, điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự [6] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ai có yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự vàNghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Hảng A X phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1.Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hảng A X 12 (Mười hai) tháng tù.

Áp dụng khoản 5 Điều 60 Bộ luật hình sự buộc bị cáo Hảng A X phải chấp hành hình phạt 18 tháng tù của bản án số 62/2016/HSST ngày 01/9/2016 của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giam là 41 ngày, thời hạn tù bị cáo còn phải chấp hành là 16 tháng 19 ngày tù.

Áp dụng Điều 51 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Hảng A X phải chấp hành hình phạt chung là 28 (Hai mươi tám) tháng 19 (Mười chín) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/7/2017.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự, điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 02 chiếc chìa khóa xe máy.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 15 giờ 00 phút ngày 05/10/2017 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Lai Châu với Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Lai Châu).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 99 của BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết. 


290
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 02/2017/HSST ngày 21/10/2017 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:02/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Lai Châu - Lai Châu
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:21/10/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về