Bản án 02/2016/KDTM-PT ngày 16/09/2016 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, thế chấp, bảo lãnh

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN

BẢN ÁN 02/2016/KDTM-PT NGÀY 16/09/2016 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG, THẾ CHẤP, BÃO LÃNH

Ngày 16 tháng 9 năm 2016, tại Tòa án nhân dân tỉnh N xét xử phúc thẩm công khai vụ án Kinh doanh - Thương mại thụ lý số 01/2016/TLPT-KDTM ngày 01 tháng 8 năm 2016 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, thế chấp, bảo lãnh”.

Do Bản án Kinh doanh - Thương mại sơ thẩm số 03/2016/KDTM-ST ngày 27 tháng 6 năm 2016 của Tòa án nhân dân Thành phố P bị kháng cáo.Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 01/2016/QĐ-PT ngày 25 tháng 8 năm 2016 của Tòa án nhân dân tỉnh N, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển V.

Địa chỉ: Số 35 HV, Quận H, Thành phố Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Bắc H - Chủ tịch Hội đồng quản trị. Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tấn V - Phó Giám đốc Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển V - Chi nhánh N. Theo Quyết định ủy quyền số: 2412/QĐ-PC ngày 16/10/2014 của Chủ tịch HĐQT và Quyết định ủy quyền số: 114/QĐ-QLRR ngày 16/10/2014 của Giám đốc Ngân hàng TMCP Đầu tư vàPhát triển V - Chi  nhánh N (có mặt).

2. Bị đơn: Công ty Cổ phần Phát triển và Kinh doanh Nhà N.

Địa chỉ: Đường 16/4, phường M, thành phố P, tỉnh N.

Đại diện theo pháp luật: Ông Hà Ngọc P – Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc công ty (có mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh N.

Địa chỉ: Số 30 đường 16/4, thành phố P, tỉnh N. Đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Tấn Q - Giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Lâm Anh T - Chuyên viên thẩm định. Theo Giấy ủy quyền ngày 07/6/2016 của Giám đốc Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh N (có mặt).

Người kháng cáo: Bị đơn Công ty Cổ phần Phát triển và Kinh doanh Nhà N.

NHẬN THẤY

Tại đơn khởi kiện ngày 16/5/2016 và trong quá trình tham gia tố tụng cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Tấn V trình bày:

Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển V – Chi nhánh N đã ký kết với Công ty Cổ phần Phát triển và Kinh doanh Nhà N tổng cộng 109 hợp đồng tín dụng, cụ thể như sau: Tổng dư nợ của Công ty Cổ phần Phát triển và Kinh doanh Nhà N tính đến ngày 26/6/2016 là: 47.349.542.762 đồng (Bốn mươi bảy tỷ, ba trăm bốn mươi chín triệu, năm trăm bốn mươi hai ngàn, bảy trăm sáu mươi hai đồng) trong đó:

- Dư nợ gốc: 38.977.898.788 đồng (Ba mươi tám tỷ, chín trăm bảy mươi bảy triệu, tám trăm chín mươi tám ngàn, bảy trăm tám mươi tám đồng).

- Dư nợ lãi và lãi phạt: 8.371.643.974 đồng (Tám tỷ, ba trăm bảy mươi mốt triệu, sáu trăm bốn mươi ba ngàn, chín trăm bảy mươi bốn đồng).

Công ty Cổ phần Phát triển và Kinh doanh Nhà N đã thế chấp cho Ngân hàng

1. Quyền sử dụng đất tọa lạc phường P, thành phố P, tỉnh N. Theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 01/2011/HĐTC ngày 28/11/2011.

2. Trụ sở làm việc của Công ty Cổ phần Phát triển và Kinh doanh Nhà N tọa lạc tại đường 16/4, phường M, thành phố P, tỉnh N. Theo Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất số: 02/661125/2014/HĐBĐ ngày 10/6/2014.

3. Trạm trộn Bê tông và sản xuất gạch block. Theo Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất số: 02/661125/2014/HĐBĐ ngày 10/6/2014.

4. 08 xe ôtô/xe tải. Theo Hợp đồng thế chấp tài sản số: 01/2014/661125/HĐTC ngày 28/02/2014.

5. Xe  cẩu hiệu ADK. Theo Hợp đồng thế chấp tài sản số: 03/2015/661125/HĐBĐ ngày 10/6/2015.

6. Dây chuyền sản xuất gạch Terazzo. Theo Hợp đồng thế chấp tài sản số: 04/2014/661125/HĐBĐ ngày 21/7/2014.

7. Dây chuyền sản xuất bêtông và dây chuyền sản xuất gạch block; 01 xe nâng và 01 xe ủi. Theo Hợp đồng thế chấp tài sản số: 01/2016/661125/HĐBĐ ngày 31/3/2016. Tổng giá trị tài sản thế chấp theo định giá của Ngân hàng là: 11.286.000.000 đồng (Mười một tỷ, hai trăm tám mươi sáu triệu đồng).

Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh N đã phát hành Chứng thư bảo lãnh số: 130/CTBL-BLTD ngày 22/9/2014 và Phụ lục gia hạn Chứng thư bảo lãnh số: 117/PLCT-BLTD ngày 10/9/2015 với số tiền bảo lãnh là: 6.600.000.000 đồng.

Đến nay, toàn bộ nợ vay theo các Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng với Công ty đã quá hạn. Theo thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng thì Công ty Cổ phần Phát triển và Kinh doanh Nhà N đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán về việc trả nợ gốc và nợ lãi. Vì vậy, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

1. Buộc Công ty Cổ phần Phát triển và Kinh doanh Nhà N phải trả cho Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển V với tổng số tiền nợ vay tính đến hết ngày 26/06/2016 là: 47.349.542.762 đồng. Trong đó:

- Nợ gốc: 38.977.898.788 đồng.

- Nợ lãi trong hạn:8.232.548.424 đồng.

- Nợ lãi quá hạn: 139.095.550 đồng.

Đồng thời buộc Công ty Cổ phần Phát triển và Kinh doanh Nhà N phải chịu lãi phát sinh kể từ ngày 27/6/2016 và lãi phạt chậm thi hành án với lãi suất theo các hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng cho đến khi thi hành án xong.

Đại diện theo pháp luật của bị đơn ông Hà Ngọc P trình bày:

Trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Công ty Cổ phần Phát triển và Kinh doanh Nhà N xác nhận Công ty có ký với Ngân hàng 109 hợp đồng tín dụng. Tính đến hết ngày 26/6/2016, Công ty Cổ phần Phát triển và Kinh doanh Nhà N xác nhận còn nợ Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển V số tiền: 47.349.542.762 đồng, trong đó: (Nợ gốc: 38.977.898.788 đồng; Nợ lãi trong hạn: 8.232.548.424 đồng; Nợ lãi quá hạn là: 139.095.550 đồng). Đồng thời Công ty xác nhận có ký với Ngân hàng 06 hợp đồng thế chấp tài sản để đảm bảo cho các khoản nợ vay nợ theo như số liệu chứng cứ mà đại diện của nguyên đơn đã cung cấp cho Tòa án và trình bày tại phiên tòa.

Tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay Công ty đã lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, không có phương án phục hồi kinh doanh. Công ty không thể trả nợ cho Ngân hàng vì Hội đồng quản trị không chấp thuận với phương án trả nợ mà Ngân hàng yêu cầu. Do đó, ngày 27/5/2016 Công ty Cổ phần Phát triển và Kinh doanh Nhà N đã gửi hồ sơ đến Tòa án nhân dân thành phố P yêu cầu Tòa án mở thủ tục tuyên bố phá sản. Công ty Cổ phần Phát triển và Kinh doanh Nhà N đề nghị Tòa án gia hạn thời hạn giải quyết vụ án; nhập vụ án này vào giải quyết chung với vụ việc phá sản của Công ty nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động.

Sau khi Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết vụ án, Công ty Cổ phần Phát triển và Kinh doanh Nhà N đã trả một khoản nợ gốc 3.410.114.681đ (Ba tỷ bốn trăm mười triệu một trăm mười bốn nghìn sáu trăm tám mươi mốt đồng) nên thực tế Công ty Cổ phần Phát triển và Kinh doanh Nhà N phải trả cho Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển  V với tổng số tiền nợ vay tính đến hết ngày 23/08/2016 là: 44.581.062.795 đồng (Số liệu nợ gốc, nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn tính đến ngày 23/8/2016). Trong đó:

- Nợ gốc : 35.567.784.107 đồng.

- Nợ lãi trong hạn: 8.751.403.963 đồng.

- Nợ lãi quá hạn: 261.874.725 đồng.

Vì vậy, trước yêu cầu của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển V thay đổi yêu cầu khởi kiện là: Yêu cầu Công ty Cổ phần Phát triển và Kinh doanh Nhà N phải trả cho Ngân hàng tổng số nợ 44.581.062.795 đồng (Bốn mươi bốn tỷ năm trăm tám mươi mốt triệu không trăm sáu mươi hai nghìn bảy trăm chín mươi lăm đồng) và lãi suất chậm trả tính trên tổng số nợ 44.581.062.795 đồng theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định, Công ty Cổ phần Phát triển và Kinh doanh Nhà N đồng ý với yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn.

Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Lâm Anh T trình bày:

Ngày 22/9/2014, ông Hà Ngọc P đại diện cho Công ty Cổ phần Phát triển và Kinh doanh Nhà N ký hợp đồng bảo lãnh vay vốn với Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh N (Gọi tắt là: Quỹ bảo lãnh tín dụng) để được vay vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển V - Chi nhánh N (Gọi tắt là: Ngân hàng). Cụ thể là:

- Hợp đồng bảo lãnh vay vốn số: 10/2014/HĐBL-BLTD ngày 22/9/2014.

- Số tiền vay: 46.000.000.000 đồng (Bốn mươi sáu tỷ đồng).

- Số tiền bảo lãnh: 6.600.000.000 đồng (Sáu tỷ sáu trăm triệu đồng).

- Thời gian bảo lãnh: 12 tháng.

- Thời điểm đến hạn: ngày 21/9/2015.

- Tài sản đảm bảo: 990.000.000 đồng (Chín trăm chín mươi triệu đồng). Đến ngày 18/8/2015, theo đề nghị của Ngân hàng và Công ty Cổ phần

Phát triển và Kinh doanh Nhà N, giữa Quỹ bảo lãnh tín dụng và Công ty Cổ phần Phát triển và Kinh doanh Nhà N đã ký Phụ lục điều chỉnh Hợp đồng bảo lãnh vay vốn số: 116/2015/PLHĐ-BLTD ngày 10/9/2015 của Hợp đồng bảo lãnh vay vốn số: 10/2014/HĐBL-BLTD ngày 22/9/2014. Nội dung của Phụ lục điều chỉnh Hợp đồng bảo lãnh vay vốn thỏa thuận như sau:

- Số tiền vay: 46.000.000.000 đồng (Bốn mươi sáu tỷ đồng).

- Số tiền bảo lãnh: 6.600.000.000 đồng (Sáu tỷ sáu trăm triệu đồng).

- Thời gian bảo lãnh: 12 tháng.

- Thời điểm đến hạn: ngày 21/9/2016.

- Tài sản đảm bảo: 990.000.000 đồng (Chín trăm chín mươi triệu đồng). Trên cơ sở đó, Quỹ bảo lãnh tín dụng đã phát hành Chứng thư bảo lãnh số: 130/CTBL-BLTD ngày 22/10/2014 và Phụ lục gia hạn Chứng thư bảo lãnh số: 117/PLCT-BLTD ngày 10/9/2015 để đảm bảo cho Công ty Cổ phần Phát triển và Kinh doanh Nhà N được vay vốn tại Ngân hàng. Việc bảo lãnh trên có hiệu lực đến hết ngày 21/9/2016. Trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh N đồng ý tiếp tục duy trì Chứng thư bảo lãnh số: 130/CTBL-BLTD ngày 22/9/2014 và Phụ lục gia hạn

Chứng thư bảo lãnh số: 117/PLCT-BLTD ngày 10/9/2015 để đảm bảo thi hành án. Bản án Kinh doanh - Thương mại sơ thẩm số 03/2016/KDTM-ST ngày 27 tháng 6 năm 2016 của Tòa án nhân dân Thành phố P đã quyết định:

Áp dụng: Điểm m khoản 1 Điều 29, Điểm b Khoản 1 Điều 33, Điều 131, Điều 5, Điều 220 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 342, 361, 471, 474 của Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 27 của Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển V:

- Buộc Công ty Cổ phần Phát triển và Kinh doanh Nhà N phải trả toàn bộ số nợ gốc và nợ lãi cho Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển V tính đến hết ngày 26/6/2016 với tổng số tiền là: 47.349.542.762 đồng (Bốn mươi bảy tỷ, ba trăm bốn mươi chín triệu, năm trăm bốn mươi hai ngàn, bảy trăm sáu mươi hai đồng) trong đó:

+ Nợ gốc: 38.977.898.788 đồng. (Ba mươi tám tỷ, chín trăm bảy mươi bảy triệu, tám trăm chín mươi tám ngàn, bảy trăm tám mươi tám đồng).

+ Nợ lãi trong hạn: 8.232.548.424 đồng (Tám tỷ, hai trăm ba mươi hai triệu, năm trăm bốn mươi tám ngàn, bốn trăm hai mươi bốn đồng)

+ Nợ lãi quá hạn tính đến ngày 26/6/2016 là: 139.095.550 đồng (Một trăm ba mươi chín triệu, không trăm chín mươi lăm ngàn, năm trăm năm mươi đồng)

- Buộc Công ty Cổ phần Phát triển và Kinh doanh Nhà N phải thanh toán số tiền lãi phát sinh kể từ ngày 27/6/2016 với lãi suất theo thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển V cho đến khi thi hành án xong.

2. Buộc Công ty Cổ phần Phát triển và Kinh doanh Nhà N phải tiếp tục duy trì với Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển V 06 (Sáu) Hợp đồng thế chấp tài sản để đảm bảo thi hành án. Bao gồm:

- Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 01/2011/HĐTC ngày 28/11/2011.

- Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất số: 02/661125/2014/HĐBĐ ngày 10/6/2014.

- Hợp đồng thế chấp tài sản số: 01/2014/661125/HĐTC ngày 28/02/2014.

- Hợp đồng thế chấp tài sản số: 04/2014/661125/HĐBĐ ngày 21/7/2014.

- Hợp đồng thế chấp tài sản số: 03/2015/661125/HĐBĐ ngày 10/6/2015.

- Hợp đồng thế chấp tài sản số: 01/2016/661125/HĐBĐ ngày 31/3/2016.

3. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự:

- Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển V với Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh N đồng ý tiếp tục duy trì Chứng thư bảo lãnh số 130/CTBL-BLTD ngày 22/9/2014 và Phụ lục gia hạn Chứng thư bảo lãnh số 117/PLCT-BLTD ngày 10/9/2015 để đảm bảo thi hành án.

Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí, quyền yêu cầu thi hành án, quyền thỏa thuận thi hành án, quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 11/7/2016 Công ty Cổ phần Phát triển và Kinh doanh Nhà N kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án gia hạn thời hạn giải quyết vụ án và nhập vụ án vào giải quyết chung với vụ việc phá sản của Cty cổ phần và kinh doanh nhà N và xem xét lại số nợ gốc đến hạn phải trả, không phải là: 38.977.898.788đ vì trong 109 hợp đồng tín dụng tính đến ngày 26/6/2016 chỉ có 34 hợp đồng quá hạn thanh toán gốc và lãi; 74 hợp đồng chưa quá hạn thanh toán tiền gốc, cho nên chưa tính nợ gốc của 75 hợp đồng này vào việc phải trả ngay.

XÉT THẤY

Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị đơn Công ty Cổ phần Phát triển và Kinh doanh Nhà N (Công ty Nhà N) trong hạn luật định nên được HĐXX xem xét.

Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận giải quyết vụ án, nội dung thỏa thuận: Sau khi xét xử sơ thẩm, Công ty Cổ phần Phát triển và Kinh doanh Nhà N đã trả nợ gốc cho Ngân hàng Đầu tư và Phát triển V 3.410.114.681đ nên nợ gốc còn 35.567.784.107đ,lãi trong hạn 8.751.403.963đ, lãi quá hạn 261.874.725đ. Tổng nợ gốc, lãi trong và quá hạn: 44.581.062.795đ.

- Công ty Cổ phần Phát triển và Kinh doanh Nhà N phải chịu lãi suất bằng 150% mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán đối với số tiền 44.581.062.795đ, thời điểm bắt đầu tính lãi suất là ngày 25/8/2016 cho đến khi thi hành án xong.

Xét thấy sự thỏa thuận của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển V và Công ty Cổ phần Phát triển và Kinh doanh Nhà N hoàn toàn tự nguyện, đúng pháp luật; Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh N không phản đối sự thỏa thuận này vì không làm ảnh hưởng đến việc duy trì Hợp đồng bảo lãnh như bản án sơ thẩm đã tuyên nên được HĐXX cấp phúc thẩm công nhận.

Bị đơn rút phần kháng cáo về việc gia hạn giải quyết vụ án và nhập vụ án vào việc phá sản được HĐXX cấp phúc thẩm chấp nhận.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, sửa bản án sơ thẩm. Xét thấy quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên có căn cứ, được HĐXX chấp nhận. Các phần quyết định của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Án phí sơ thẩm: Các đương sự không thỏa thuận nghĩa vụ chịu án phí nên Công ty Cổ phần Phát triển và Kinh doanh Nhà N phải chịu: 152.581.063đ. Ngân hàng Đầu tư và Phát triển V không phải chịu án phí sơ thẩm.

Án phí phúc thẩm: Công ty Cổ phần Phát triển và Kinh doanh Nhà N phải chịu 200.000đ án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên, Công nhận sự thỏa thuận của nguyên đơn và bị đơn tại phiên tòa phúc thẩm,  sửa bản án Kinh doanh – Thương mại sơ thẩm số 03/2016/KDTM-ST ngày 27 tháng 6 năm 2016 của Tòa án nhân dân Thành phố, tỉnh N.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Điều 30 khoản 1, Điều 300, Điều 308 khoản 2, Điều 289 khoản 1 điểm c, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 342, 361, 471, 474; Điều 305 khoản 2; Điều 476 của Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 30 khoản 5 Pháp lệnh Án phí, lệ phí Tòa án của UBTVQH12.

Tuyên xử:

- Chấp nhận Công ty Cổ phần Phát triển và Kinh doanh Nhà N rút phần kháng cáo đối với việc yêu cầu gia hạn và nhập vụ án vào việc phá sản Doanh nghiệp; Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo đã rút.

- Sửa Bản án sơ thẩm; Công nhận sự thỏa thuận giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển V và Công ty Cổ phần Phát triển và Kinh doanh Nhà N:

+ Công ty Cổ phần Phát triển và Kinh doanh Nhà N phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển V 44.581.062.795đ (Bốn mươi bốn tỷ năm trăm tám mươi mốt triệu không trăm sáu mươi hai ngàn bảy trăm chín mươi lăm đồng); Công ty Cổ phần Phát triển và Kinh doanh Nhà N phải chịu lãi suất của số tiền 44.581.062.795đ (Bốn mươi bốn tỷ năm trăm tám mươi mốt triệu không trăm sáu mươi hai ngàn bảy trăm chín mươi lăm đồng), lãi suất bằng 150% mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, thời điểm bắt đầu tính lãi suất là ngày 25/8/2016 cho đến khi thi hành án xong.

- Buộc Công ty Cổ phần Phát triển và Kinh doanh Nhà N phải tiếp tục duy trì với Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển V 06 (Sáu) Hợp đồng thế chấp tài sản để đảm bảo thi hành án, gồm:

+ Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 01/2011/HĐTC ngày 28/11/2011.

+ Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất số: 02/661125/2014/HĐBĐ ngày 10/6/2014.

+ Hợp đồng thế chấp tài sản số: 01/2014/661125/HĐTC ngày 28/02/2014.

+ Hợp đồng thế chấp tài sản số: 04/2014/661125/HĐBĐ ngày 21/7/2014.

+ Hợp đồng thế chấp tài sản số: 03/2015/661125/HĐBĐ ngày 10/6/2015.

+ Hợp đồng thế chấp tài sản số: 01/2016/661125/HĐBĐ ngày 31/3/2016.

- Công nhận sự thỏa thuận giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển V với Quỹ bảo lãnh Tín dụng cho Doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh N: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển V với Quỹ bảo lãnh Tín dụng cho Doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh N đồng ý tiếp tục duy trì Chứng thư bảo lãnh số 130/CTBL-BLTD ngày 22/9/2014 và Phụ lục gia hạn Chứng thư bảo lãnh số 117/PLCT-BLTD ngày 10/9/2015 để đảm bảo thi hành án.

- Án phí sơ thẩm:

+ Công  ty Cổ phần Phát triển và Kinh doanh Nhà N phải chịu 152.581.063 (Một trăm năm mươi hai triệu năm trăm tám mươi mốt ngàn không trăm sáu mươi ba đồng) án phí Kinh doanh-Thương mại sơ thẩm.

+ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển V không phải chịu án phí Kinh doanh-Thương mại sơ thẩm, được hoàn trả 77.625.000 đồng (Bảy mươi bảy triệu sáu trăm hai mươi lăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010249 ngày 18/5/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P.

- Án phí phúc thẩm: Công ty Cổ phần Phát triển và Kinh doanh Nhà N phải chịu 200.000đ án phí Kinh doanh-Thương mại phúc thẩm được khấu trừ vào 200.000đ tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010454 ngày 28/7/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P, tỉnh N (do bà Lương Thị Phương T nộp thay). Công ty Cổ phần Phát triển và Kinh doanh Nhà N đã nộp đủ án phí phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án (16/9/2016).


128
Bản án/Quyết định được xét lại
 
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 02/2016/KDTM-PT ngày 16/09/2016 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, thế chấp, bảo lãnh

Số hiệu:02/2016/KDTM-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Ninh Thuận
Lĩnh vực:Kinh tế
Ngày ban hành: 16/09/2016
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về