Bản án 01/2021/HNGĐ-ST ngày 18/01/2021 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HD, TỈNH HD

BẢN ÁN 01/2021/HNGĐ-ST NGÀY 18/01/2021 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON CHUNG 

Ngày 18 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố HD, tỉnh HD xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 532/2020/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2020 về việc tranh chấp: “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2020/QĐXXST- HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm: 1988.

ĐKHKTT: Số nhà 01 đường Nguyễn Đình Chiểu, khu 7, phường Ngọc Châu, HD, tỉnh HD.

Nơi cư trú: số nhà 79, ngõ 120, phố Chi Lăng, phường Nguyễn Trãi, HD, tỉnh HD.

Chị H có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.

Bị đơn: Anh Hoàng Văn H, sinh năm: 1987.

ĐKHKTT và trú tại: Số nhà 01 đường Nguyễn Đình Chiểu, khu 7, phường Ngọc Châu, thành phố HD, tỉnh HD, tỉnh HD.

Anh H có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị và anh Hoàng Văn H được tự do tìm hiểu nhau khoảng 06 tháng và tự nguyện kết hôn, được đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Ngọc Châu, thành phố HD, tỉnh HD, tỉnh HD vào ngày 22/10/2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 07 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hợp, luôn bất đồng quan điểm, quan niệm sống khác nhau nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, va chạm xô sát nhau. Mặt khác, anh H còn không tập trung làm ăn kinh tế với chị và không chí thú với gia đình, có biểu hiện không chung thủy. Giữa hai người không tìm được tiếng nói chung, cuộc sống vợ chồng luôn căng thẳng nên vợ chồng đã sống ly thân. Chị đã xin phép bố mẹ chồng chị và đưa cả con nhỏ của anh chị là Hoàng Minh Kh về ở nhờ nhà bố mẹ đẻ chị. Do mâu thuẫn vợ chồng nên anh chị không còn quan tâm đến nhau nữa. Từ khi vợ chồng mâu thuẫn đến nay, chị là người chăm sóc con nhỏ, anh H là người chăm sóc con lớn. Anh H cũng không quan tâm gì đến chị, đến con nhỏ. Tháng 05 năm 2020, mâu thuẫn vợ chồng không thể giải quyết được nên chị đã làm đơn xin ly hôn với anh H tại Tòa án nhân dân thành phố HD, nghĩ đến con chung, chị đã rút đơn về nhưng tình cảm vợ chồng không được cải thiện. Hai bên gia đình cũng hòa giải cho anh chị nhiều lần nhưng cuộc sống vợ chồng vẫn không có hạnh phúc. Từ khi vợ chồng mâu thuẫn đến nay, chị vẫn trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con nhỏ; anh H vẫn nuôi con lớn. Nay, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể tiếp tục duy trì cuộc sống vợ chồng nên chị giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Hoàng Văn H. Sau khi nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập đến phiên tòa, chị Hằng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt chị.

Tại bản tự khai ngày 27 tháng 11 năm 2020, anh Hoàng Văn H trình bày: anh và chị Nguyễn Thị H được tự do tìm hiểu khoảng 06 tháng và kết hôn vào ngày 22 tháng 10 năm 2012 tại Ủy ban nhân dân phường Ngọc Châu, thành phố HD, tỉnh HD, tỉnh HD. Sau khi cưới, vợ chồng hạnh phúc được 07 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do công việc của anh làm nghề lái xe đi sớm về hôm nên vợ chồng không hiểu nhau. Tháng 05 năm 2020, chị H làm đơn xin ly hôn với anh song tháng 6 chị H lại rút đơn về để vợ chồng đoàn tụ nhưng tình cảm vợ chồng không được cải thiện, anh chị đã ly thân từ tháng 4 đến nay, chị H về nhà mẹ đẻ ở, anh ở nhà hai vợ chồng, anh đề nghị Tòa án cho anh chị được về ở với nhau để nuôi dạy con chung. Tòa án giải quyết cho anh chị ly hôn thì anh xin được nuôi dưỡng con lớn là Hoàng Nam Ph, chị H nuôi con nhỏ là Hoàng Minh Kh, không ai phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho ai. Sau khi nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập đến phiên tòa, a nh H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt anh.

Về con chung: Chị H và anh H trình bày, anh chị có hai con chung là Hoàng Nam Ph, sinh ngày 22/5/2013, hiện đang ở với anh H và Hoàng Minh Kh , sinh ngày 02/3/2019, hiện chị H đang nuôi dưỡng. Sau ly hôn, chị H và anh H đều có nguyện vọng đề nghị Tòa án cho chị được nuôi dưỡng con nhỏ là Hoàng Minh Kh, anh H được nuôi dưỡng con lớn Hoàng Nam Ph để các con ổn định cuộc sống. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau. Hiện nay, chị là nhân viên văn phòng làm việc tại Công ty TNHH PNG Việt Nam (sản xuất mũ lưỡi trai) tại đường Ngô Quyền, thành phố HD, tỉnh HD, tỉnh HD. Lương và thu nhập trung bình của chị được khoảng 06 triệu đồng/tháng, mẹ con chị đang ở nhờ nhà bố mẹ đẻ chị, hai mẹ con chị có chỗ ở ổn định, bố mẹ chị sẽ tạo mọi điều kiện tốt nhất về chỗ ăn ở, sinh hoạt hàng ngày cho chị và con nhỏ nên chị có đủ điều kiện vật chất và tinh thần để chăm sóc, nuôi dưỡng con tốt.

Về tài sản: Hai bên trình bày, anh chị không có tài sản chung, không có tài sản riêng; không nợ chung và cho ai vay chung; nợ riêng, cho vay riêng, công sức đóng góp với gia đình hai bên không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, theo yêu cầu của chị H, Toà án tiến hành lấy lời khai của mẹ đẻ anh H, bố đẻ chị H, xác minh tại khu dân cư nơi anh H cư trú thể hiện: Anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Ngọc Châu, thành phố HD, tỉnh HD vào ngày 22/10/2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị về gia đình bố mẹ anh H sinh sống. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được 07 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh chị không tin tưởng nhau, bất đồng quan điểm sống, anh H có biểu hiện không chung thủy, vợ chồng không có tiếng nói chung, hay ghen tuông nhau nên thường xuyên cãi nhau, hai người đã sống ly thân, mỗi người ở một nơi và không còn quan tâm đến nhau nữa. Chị H đã làm đơn xin ly hôn anh H tại Tòa án, sau đó, lại rút đơn về; gia đình hai bên và khu dân cư hòa giải cho anh chị nhiều lần nhưng vợ chồng vẫn mâu thuẫn. Đến nay, hai người không ở cùng nhau nữa. Hiện nay, anh H đang nuôi con lớn còn chị H đang nuôi con nhỏ. Về quan hệ vợ chồng, đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của chị H, cho chị được ly hôn với anh H. Về con chung, đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của anh chị. Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung, nợ riêng, cho vay chung, cho vay riêng, công sức đóng góp với gia đình hai bên của anh chị đều không có.

Tại phiên toà hôm nay, chị H và anh H đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt chị và anh H.

Kiểm sát viên tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Về quan hệ vợ chồng: xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Hoàng Văn H; Về quan hệ con chung: giao cho chị Nguyễn Thị H nuôi dưỡng con chung là Hoàng Minh Kh, sinh ngày 02/3/2019; giao cho anh Hoàng Văn H nuôi dưỡng con chung là Hoàng Nam Ph, sinh ngày 22/5/2013, thời gian kể từ tháng 01 năm 2021 đến khi các con chung đủ 18 tuổi trưởng thành. Chị H và anh H được quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về án phí:

buộc chị H phải chịu án phí sơ thẩm Hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật là 300.000 đồng được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp là 300.000 đồng. Chị H đã thực hiện xong nghĩa vụ về án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử và ấn định thời gian mở phiên tòa vào ngày 18/01/2021. Tuy nhiên, chị H và anh H đều có đơn xin xét xử vắng mặt chị H và anh H nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt chị H và anh H theo khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Về quan hệ vợ chồng: chị Nguyễn Thị H và anh Hoàng Văn H được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Ngọc Châu, thành phố HD, tỉnh HD vào ngày 22/10/2012 là hôn nhân hợp pháp. Cuộc sống chung của anh, chị hạnh phúc khoảng 07 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không tập trung kinh tế, không tìm được tiếng nói chung, không có sự quan tâm, chia sẻ đối với nhau, không tin tưởng nhau. Anh H có biểu hiện không chung thủy, hai người đã sống ly thân. Anh chị đã từng được Tòa án thụ lý, giải quyết nhiều lần, đã được Tòa án, gia đình hai bên và địa phương hòa giải nhiều lần, chị H đã rút đơn về để vợ chồng đoàn tụ nhưng tình cảm vợ chồng không được cải thiện. Hiện nay, mỗi người ở một nơi. Tòa án triệu tập chị H và anh H đến Tòa án để hòa giải, anh H đã biết việc Tòa án triệu tập nhưng không có mặt tại buổi hòa giải, điều đó thể hiện anh không còn thiện chí mong muốn vợ chồng đoàn tụ và không muốn hàn gắn tình cảm với chị H, hai bên gia đình và địa phương cũng đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của chị H, cho chị H được ly hôn với anh H, Hội đồng xét xử xét thấy: mâu thuẫn của anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, việc chị H xin ly hôn anh H là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.

Về quan hệ con chung: vợ chồng chị H và anh H có hai con chung là Hoàng Nam Ph, sinh ngày 22/5/2013, hiện đang ở với anh H và Hoàng Minh Kh, sinh ngày 02/3/2019, hiện chị H đang nuôi dưỡng. Sau ly hôn, anh chị có nguyện vọng đề nghị Tòa án cho chị H được nuôi dưỡng con nhỏ, anh H được nuôi dưỡng con lớn. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau. Hiện nay, chị H là nhân viên văn phòng làm việc tại Công ty TNHH PNG Việt Nam (sản xuất mũ lưỡi trai) tại đường Ngô Quyền, thành phố HD, tỉnh HD; lương và thu nhập trung bình của chị H được khoảng 06 triệu đồng/tháng và mẹ con chị ở nhờ nhà bố mẹ đẻ chị nên chị có đủ điều kiện vật chất và tinh thần để chăm sóc, nuôi dưỡng con tốt. Anh H là lái xe, có chỗ ở ổn định nên cũng có khả năng nuôi dưỡng con tốt. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy chị H và anh H đều có công việc tốt, chỗ ăn ở, sinh hoạt ổn định và thu nhập tốt, xét nguyện vọng của anh chị và hai bên gia đình cũng như địa phương đều mong muốn giao con cho anh chị nuôi dưỡng theo nguyện vọng của mỗi người, cháu Hoàng Nam Ph cũng có nguyện vọng xin được ở với bố; hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau và đảm bảo quyền lợi của các con chung, vì vậy, nguyện vọng của anh chị về con chung là chính đáng nên được chấp nhận. Anh chị đều được quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung, cho vay chung, nợ riêng, cho vay riêng, công sức đóng góp với gia đình hai bên: Hai bên đều xác định anh chị không có tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung, cho vay chung, nợ riêng, cho vay riêng, công sức đóng góp với gia đình hai bên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy, không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị H xin ly hôn nên phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Về quan hệ vợ chồng: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Hoàng Văn H.

- Về quan hệ con chung: Xử giao cho chị Nguyễn Thị H nuôi dưỡng con chung là Hoàng Minh Kh, sinh ngày 02/3/2019; giao cho anh Hoàng Văn H nuôi dưỡng con chung là Hoàng Nam Ph , sinh ngày 22/5/2013, thời gian kể từ tháng 01 năm 2021 đến khi các con chung đủ 18 tuổi trưởng thành.

Chị Nguyễn Thị H và anh Hoàng Văn H được quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

- Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm Hôn nhân và gia đình nhưng được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị Hằng đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2018/0002576 ngày 15/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố HD. Chị Nguyễn Thị H đã thực hiện xong nghĩa vụ án phí sơ thẩm ly hôn.

Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt chị H và anh H. Chị H và anh H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


25
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 01/2021/HNGĐ-ST ngày 18/01/2021 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

Số hiệu:01/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Hải Dương - Hải Dương
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:18/01/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về