Bản án 01/2021/HNGĐ-ST ngày 12/01/2021 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN

BẢN ÁN 01/2021/HNGĐ-ST NGÀY 12/01/2021 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 12 tháng 01 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 424/2020/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2020, về việc “Ly hôn, Tranh chấp về nuôi con”; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/12/2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 71/2020/QĐST-HNGĐ ngày 25/12/2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Minh T – Sinh năm 1985.

Địa chỉ: Thôn Phú Sơn, xã Hàm Mỹ, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.

Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu L – Sinh năm 1981.

Hộ khẩu thường trú: Thôn 7, xã Nghị Đức, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.

Hộ khẩu tạm trú: Thôn 3, xã Hàm Liêm, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

Đương sự có mặt: Bà Trang; Đương sự vắng mặt: Ông Linh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 12/8/2020, bản khai của nguyên đơn bà Đỗ Thị Minh T khai:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Hữu L cưới nhau vào năm 2005 có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Nghị Đức, huyện Tánh Linh theo Giấy chứng nhận kết hôn ngày số 49, quyển số 01/06 ngày 17/7/2006. Việc cưới nhau là do hai bên tự nguyện sau thời gian tìm hiểu trong thời gian 02 năm. Sau khi cưới vợ chồng sống tại thôn 3, xã Hàm Liêm, huyện Hàm Thuận Bắc. Vợ chồng sống hạnh phúc được 08 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông Nguyễn Hữu L không lo làm ăn, thường xuyên uống rượu rồi đánh đập vợ con. Vợ chồng bà không còn sống chung với nhau từ ngày 30/4/2019 cho đến nay. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa và bà yêu cầu xin được ly hôn với ông Nguyễn Hữu Linh.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung tên Nguyễn Thị Hoàng Liên – Sinh ngày 15/3/2006, Nguyễn Thị Hoàng Luyến – Sinh ngày 15/3/2006 và Nguyễn Hữu Hoàng M – Sinh ngày 20/8/2014. Hiện nay các con đang ở cùng với bà. Khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi 03 con và không yêu cầu ông Nguyễn Hữu L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ: Không yêu cầu Tòa giải quyết.

Ngoài ra, do ông Nguyễn Hữu L vắng mặt nên bà yêu cầu Tòa giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị đơn ông Nguyễn Hữu L đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tụng tố tụng như ghi lời khai, lập biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Minh T. Bà Đỗ Thị Minh T được ly hôn với ông Nguyễn Hữu L.

Về con chung : Bà Đỗ Thị Minh T được quyền tiếp tục nuôi dưỡng 03 con chung tên Nguyễn Thị Hoàng Liên – Sinh ngày 15/3/2006, Nguyễn Thị Hoàng Luyến – Sinh ngày 15/3/2006, Nguyễn Hữu Hoàng M – Sinh ngày 20/8/2014.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con với bị đơn. Đây là tranh chấp về ly hôn, nuôi con. Bị đơn có địa chỉ tại thôn 3, xã Hàm Liêm, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Hữu L đã được tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.

[3] Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị Minh T và ông Nguyễn Hữu L cưới nhau vào năm 2005, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Nghị Đức, huyện Tánh Linh theo Giấy chứng nhận kết hôn ngày số 49, quyển số 01/06 ngày 17/7/2006. Đây là hôn nhân hợp pháp, phù hợp với quy định tại các Điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình. Bà T cho rằng vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 08 năm thì phát sinh mâu thuẫn và nguyên nhân mâu thuẫn là do ông Nguyễn Hữu L không lo làm ăn, thường xuyên uống rượu rồi đánh đập vợ con. Vợ chồng bà không còn sống chung với nhau từ ngày 30/4/2019 cho đến nay. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa và bà yêu cầu xin được ly hôn với ông Nguyễn Hữu L.

Từ giai đoạn thụ lý vụ án cho đến khi Tòa án mở phiên tòa, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông L nhưng ông L cố tình lẫn tránh, vắng mặt không có lý do nên Tòa không tiến hành hòa giải vụ án theo quy định của pháp luật được. Việc đó thể hiện ý thức xem thường pháp luật, không thiết tha gì đến hạnh phúc và hôn nhân của mình. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử nhận định quan hệ hôn nhân giữa bà Đỗ Thị Minh T và ông Nguyễn Hữu L thực tế đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể tiếp tục cuộc sống chung được. Do vậy, yêu cầu được ly hôn của bà Đỗ Thị Minh T là có căn cứ nên chấp nhận.

- Về con chung: Bà Đỗ Thị Minh T và ông Nguyễn Hữu L có 03 con chung tên Nguyễn Thị Hoàng Liên – Sinh ngày 15/3/2006, Nguyễn Thị Hoàng Luyến – Sinh ngày 15/3/2006 và Nguyễn Hữu Hoàng M – Sinh ngày 20/8/2014. Hiện nay các con đang ở cùng với bà Đỗ Thị Minh T.

Tại đơn khởi kiện cũng như tại phiên tòa, bà Trang yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi dưỡng 03 con chung, không yêu cầu ông Nguyễn Hữu L phải cấp dưỡng nuôi con.

Xét yêu cầu nuôi con của bà Đỗ Thị Minh T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các con tên Liên, Luyến có nguyện vọng ở với bà T, con tên Nguyễn Hữu Hoàng M ở với bà Trang từ khi sinh ra cho đến nay đều do bà Trang chăm sóc, giáo dục, ông L không đến Tòa để nêu ý kiến của ông. Vì vậy, giao các con chung cho bà T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Bà Đỗ Thị Minh T không yêu cầu ông Nguyễn Hữu L cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí: Bà Đỗ Thị Minh T phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.

Ông Nguyễn Hữu L không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 70, Điều 72, Khoản 4 Điều 91, Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Điều 146, Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a Khoản 5, Điểm a Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Đỗ Thị Minh T về việc yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Hữu L.

Bà Đỗ Thị Minh T được ly hôn với ông Nguyễn Hữu L.

2. Về con chung:

Bà Đỗ Thị Minh T được quyền tiếp tục nuôi dưỡng 03 con chung tên Nguyễn Thị Hoàng Liên – Sinh ngày 15/3/2006, Nguyễn Thị Hoàng Luyến – Sinh ngày 15/3/2006 và Nguyễn Hữu Hoàng M – Sinh ngày 20/8/2014.

Bà Đỗ Thị Minh T không yêu cầu ông Nguyễn Hữu L cấp dưỡng nuôi con.

Ông Nguyễn Hữu L có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí:

Bà Đỗ Thị Minh T phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Bà Đỗ Thị Minh T đã nộp đủ 300.000đồng tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0004315 ngày 19/8/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nên không nộp nữa.

Ông Nguyễn Hữu L không chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo :

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 12/01/2021), bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.


18
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 01/2021/HNGĐ-ST ngày 12/01/2021 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:01/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hàm Thuận Bắc - Bình Thuận
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:12/01/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về