Bán án 01/2021/HNGĐ-ST ngày 04/01/2021 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH AN GIANG

BÁN ÁN 01/2021/HNGĐ-ST NGÀY 04/01/2021 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 04 tháng 01 năm 2021 tại Tòa án nhân dân thành phố L xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 529/2020/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2020 về “Yêu cầu không công nhận quan hệ hôn nhân là vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo số: 400/2020/QĐXXST- HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 302/2020/QĐST– HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1982 Địa chỉ: Số 18/38, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

2. Bị đơn: Ông Huỳnh Văn H, sinh năm 1971. Vắng mặt Địa chỉ: Số 19/3, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 05/8/2020 và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn Nguyễn Thị C trình bày:

Năm 2002, bà C và ông H quen biết, tìm hiểu và tự nguyện tiến đến hôn nhân nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật , bà C và ông H sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, do bất đồng quan điểm sống, cả hai không còn thương yêu và tin tưởng nhau. Nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt nên bà C yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ hôn nhân là vợ chồng với ông H; Về con chung: Bà C và ông H có 02 con chung tên là Nguyễn Thị Đ, sinh ngày 08/8/2003 Nguyễn Văn P, sinh ngày 23/01/2006. Hiện bà C đang chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung. Sau khi ly hôn, bà C yêu cầu được nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con chung và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Bị đơn Huỳnh Văn H vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và lần thứ hai tại phiên tòa, không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa Hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Nguyên đơn Nguyễn Thị C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Bị đơn Huỳnh Văn H vắng mặt lần thứ hai, không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thành phần Hội đồng xét xử cũng như xác định quan hệ tranh chấp, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong vụ án đúng theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Căn cứ các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị C đối với bị đơn Huỳnh Văn H, không công nhận quan hệ hôn nhân giữa bà C và ông H là vợ chồng, do cả hai không đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Về con chung: Bà C được quyền nuôi 02 con theo quy định tại Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Về cấp dưỡng: Bà C không yêu cầu nên không xét đến; Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ ý kiến của các đương sự tại bản tự khai, Tòa án nhận định:

Về thủ tục tố tụng [1] Tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị C và ông Huỳnh Văn H là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Bị đơn đang sinh sống tại phường M, thành phố L nên nguyên đơn khởi kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố L theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Tại biên bản xác minh tình trạng cư trú, Công an phường Mỹ Thới, thành phố L xác nhận: “Ông Huỳnh Văn H hiện đang sinh sống tại số 19/3, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang” nên Tòa án đã tiến hành tống đạt trực tiếp, niêm yết các văn bản tố tụng cho bị đơn hợp lệ nhưng bị đơn đã từ chối các quyền, cũng như không thực hiện nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

[4] Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai, không lý do. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 228, điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về nội dung tranh chấp

[1] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn và bị đơn tự nguyện tiến đến hôn nhân từ năm 2002 nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, mặc dù cả hai người đủ điều kiện đăng ký kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình. Như vậy, hôn nhân giữa nguyên đơn, bị đơn đã không tuân thủ theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 về đăng ký kết hôn. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn trong hôn nhân giữa các bên, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không công nhận quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn là vợ chồng, đồng thời xem xét quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn, bị đơn đối với con trong trường hợp các bên chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 14, Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2] Về con chung: Nguyên đơn và bị đơn có 02 con chung tên Nguyễn Thị A, sinh ngày 08/8/2003 Nguyễn Văn P, sinh ngày 23/01/2006. Hiện nguyên đơn đang chăm sóc, nuôi dưỡng con và yêu cầu được nuôi con nhưng bị đơn không có ý kiến phản đối. Do đó, để tạo điều kiện thuận lợi cho việc học hành con cũng như xem xét điều kiện, hoàn cảnh của nguyên đơn và nguyện vọng của con chung theo biên bản lấy lời khai ngày 09/11/2020. Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định tại Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Nguyên đơn cùng các thành viên gia đình của nguyên đơn không được cản trở bị đơn trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Nguyên đơn và bị đơn có quyền thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con theo quy định tại Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Bị đơn không phải cấp dưỡng nuôi con do nguyên đơn không yêu cầu.

[4] Về tài sản chung: Nguyên đơn cho rằng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nhưng bị đơn không có ý kiến phản đối nên Hội đồng xét xử không xét đến.

[5] Về nợ chung: Không có.

[6] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp án phí hôn nhân sơ thẩm theo qui định pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 1 Điều 227, khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 1 Điều 238; Điều 266; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9; Điều 14; Điều 15; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và án phí Tòa án;

Xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị C đối với bị đơn Huỳnh Văn H.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị C và ông Huỳnh Văn H là vợ chồng.

[2] Về quan hệ con chung: Bà Nguyễn Thị C được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung tên Nguyễn Thị A, sinh ngày 08/8/2003 và Nguyễn Văn P, sinh ngày 23/01/2006.

Bà C cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Bà C và ông H có quyền thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con theo quy định pháp luật.

[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Ông H không phải cấp dưỡng nuôi con, do bà C không yêu cầu.

[4] Về tài sản chung: Nguyên đơn cho rằng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nhưng bị đơn không có ý kiến phản đối nên Hội đồng xét xử không xét đến.

[5] Về nợ chung: Không có

[6] Về án phí hôn nhân sơ thẩm Nguyên đơn Nguyễn Thị C phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005511 ngày 01/10/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L. Nguyên đơn đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp án phí.

[7] Về quyền kháng cáo Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc Tòa án niêm yết bản án.


20
Bản án/Quyết định đang xem

Bán án 01/2021/HNGĐ-ST ngày 04/01/2021 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:01/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Long Xuyên - An Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:04/01/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về