Bản án 01/2021/HNGĐ-ST ngày 04/01/2021 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 01/2021/HNGĐ-ST NGÀY 04/01/2021 VỀ LY HÔN 

Ngày 04 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 284/2020/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2020, về việc "Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 54/2020/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị C; trú tại: Thôn TD, xã HN, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, vắng mặt tại phiên toà (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Đoàn Văn T; trú tại: Thôn VL 1, xã TP, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, chị Đỗ Thị C trình bày:

1.Về quan hệ hôn nhân: Chị C và anh Đoàn Văn T kết hôn với nhau vào năm 2015, trên cơ sở được tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TP, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng ngày 19 tháng 9 năm 2015. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn VL 1, xã TP, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tin tưởng, thông cảm với nhau, vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, mâu thuẫn đã được gia đình hòa giải, khuyên nhủ, nhưng không có kết quả. Chị C, anh T đã sống ly thân nhau từ tháng 6 năm 2020 không ai quan tâm đến ai. Nay chị C thấy tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không có khả năng hàn gắn, đoàn tụ, nên đề nghị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo giải quyết cho chị C được ly hôn ông Đoàn Văn T.

2. Về con chung: Chị Đỗ Thị C và anh Đoàn Văn T không có con chung, không đề nghị Tòa án giải quyết.

3. Về tài sản chung, công nợ và các vấn đề khác: Chị C không yêu cầu Toà án giải quyết.

Anh Đoàn Văn T thống nhất với chị Đỗ Thị C về thời gian, điều kiện kết hôn, quá trình chung sống, mâu thuẫn vợ chồng. Nay chị C có đơn ly hôn với anh, anh T xét thấy vợ chồng không còn tình cảm, nên đồng ý với yêu cầu xin ly hôn của chị C; về con chung anh T và chị C không có con chung không yêu cầu Tòa án giải quyết; về tài sản công nợ và các vấn đề khác, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử đã đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn là chị Đỗ Thị C có đơn khởi kiện về việc ly hôn, anh Đoàn Văn T là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn đã cơ bản thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật, bị đơn không đến Tòa án theo giấy triệu tập của Tòa án là chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70 và 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: giải quyết chị Đỗ Thị C được ly hôn anh Đoàn Văn T; về con chung: Chị C, anh T không con chung, nên đề nghị không xét; về tài sản: Các đương sự không có yêu cầu nên đề nghị Tòa án không xét; chị C phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

- Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền: Đây là vụ án về việc ly hôn, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp thuộc Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

[2] Về việc vắng mặt của nguyên đơn chị Đỗ Thị C, bị đơn anh Đoàn Văn T: Chị C, anh T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 02, chị C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt không có lý do, nên căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị C, anh T.

- Về yêu cầu của nguyên đơn chị Đỗ Thị C:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị C kết hôn với anh Đoàn Văn T trên cơ sở được tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 19 tháng 9 năm 2015, tại Ủy ban nhân dân xã TP, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, căn cứ vào khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình, xác định là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống trên cơ sở lời khai đương sự, biên bản xác minh của Tòa án thấy: Trong thời gian chung sống chị C và anh T đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không thông cảm, tin tưởng nhau, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình khuyên bảo, hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả, chị C, anh T đã ly thân nhau, không ai quan tâm đến ai từ tháng 06 năm 2020. Căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình, xác định mâu thuẫn của chị C, anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị C xin ly hôn anh T là có căn cứ, phù hợp Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của chị C được ly hôn anh T.

[4] Về con chung: Chị Đỗ Thị C và anh Đoàn Văn T không có con chung, không đề nghị Tòa án giải quyết. Nên Hội đồng xét xử không xét.

[5] Về tài sản chung, công nợ và các vấn đề khác: Các đương sự không yêu cầu, Hội đồng xét xử không xét.

[6] Về án phí: Chị Đỗ Thị C phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào quy định tại các điều 19, 51, 53, 56, 57 và Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào quy định tại Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1- Chị Đỗ Thị C được ly hôn ông Đoàn Văn T;

2- Về án phí: Chị Đỗ Thị C phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0017335 ngày 05 tháng 10 năm 2020, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo, chị C đã nộp đủ án phí.

4- Về quyền kháng cáo bản án:

Chị Đỗ Thị C, anh Đoàn Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.


17
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 01/2021/HNGĐ-ST ngày 04/01/2021 về ly hôn

Số hiệu:01/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Vĩnh Bảo - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:04/01/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về