Bản án 01/2020/HSST ngày 10/11/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN

BẢN ÁN 01/2020/HSST NGÀY 10/11/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 10 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2020/HSST, ngày 13 tháng 10 năm 2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2020/QĐXXST – HS ngày 29 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn Đ; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 1963 tại huyện M, tỉnh Điện Biên; Nơi ĐKHKTT: Bản Đ, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên; Cư trú tại: Bản Đ, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 4/10; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; con ông:

Lò Văn B (đã chết) và bà Lò Thị M, sinh năm: 1935; Bị cáo có vợ: chị Lò Thị I, sinh năm 1966 và 02 người con, lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 1996; Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Nhân thân: Ngày 04/12/1997 bị Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo xử phạt 24 tháng tù vê tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" nay đã được xóa án tích; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/8/2020 cho đến ngày xét xử, bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì hành vi phạm tội của Lò Văn Đ được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 05 phút ngày 03/8/2020, tại bản C, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên, Lò Văn Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,08 gam Heroine và 0,1 gam Methamphetamine mục đích sử dụng.

Quá trình điều tra đã làm rõ: Khoảng 12 giờ ngày 03/8/2020 Lò Văn Đ một mình đi bộ từ nhà ở Bản Đ, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên đến bản N, xã N, huyện M hỏi mua ma túy. Khi đến bản N, xã N thì Đ gặp bé trai khoảng 8 đến 10 tuổi ở ven đường, qua trao đổi Đ đã nhờ bé trai đó mua hộ một gói nhỏ được gói bằng mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ bên trong có Heroine và 01 viên Methamphetamine được gói bằng túi ni lông màu xanh với giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy Đ cầm trong lòng bàn tay trái đi về nhà. Hồi 13 giờ 05 phút cùng ngày, khi Đ về đến bản C, xã M, huyện M thì gặp Tổ công tác Công an xã Mường Đăng kiểm tra phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ số ma túy của Đ.

Tại biên bản niêm phong vật chứng hồi 14 giờ 00 phút ngày 03/8/2020 thì vật chứng thu giữ của Lò Văn Đ là 01 một gói nhỏ được gói bằng mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là Heroine và 01 viên màu hồng có ký hiệu WY được gói bằng túi ni lông màu xanh nghi là Methamphetamine (Hồng phiến).

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng hồi 18 giờ 05 ngày 03/8/2020 thì 01 gói chất bột màu trắng gói bằng mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ nghi là Heroine có khối lượng là: 0,08 gam; 01 viên màu hồng có ký hiệu WY được gói bằng túi ni lông mà xanh nghi là ma túy tổng hợp (Hồng phiến) có khối lượng là: 0,1 gam.

Tại bản kết luận giám định số: 758/GĐ – PC 09, ngày 10/8/2020 của cơ quan giám định kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Lò Văn Đ gồm:

- 0,08 gam chất bột màu trắng là ma túy: Loại Heroine nằm trong danh mục các chất ma túy, STT: 9, mục IA, danh mục I, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018;

- 0,1 gam viên nén màu hồng là ma túy: Loại Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy có số thứ tự: 323, Mục IIC, danh mục II, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018.

Hoàn lại mẫu sau khi giám định.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Cáo trạng số: 59/CT - VKSMA, ngày 12/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đã truy tố bị cáo Lò Văn Đ về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diệnViện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật đã áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo Lò Văn Đ từ 14 tháng đến 16 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a Khoản 2 Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 0,04 gam Heroine; 0,07 gam Methamphetamine là vật chứng còn lại của vụ án.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo sống ở xã có điều kiện đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí đề nghị miễn án phí HSST cho bị cáo Lò Văn Đ.

Lời nói sau cùng, Lò Văn Đ nhận phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo Lò Văn Đ công nhận: Hồi 13 giờ 05 phút ngày 03/8/2020, tại bản C, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên, Lò Văn Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,08 gam Heroine và 0,1 gam Methamphetamine mục đích sử dụng. Trong quá trình điều tra bị cáo khai mua 01 gói nhỏ Heroine và 01 viên Hồng phiến với giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng).

Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các lời khai của bị cáo và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với biên bản niêm phong tài liệu đồ vật và biên bản xác định khối lượng ngày 03/8/2020 và kết luận giám định số 758/GĐ – PC 09, ngày 10/8/2020 của cơ quan giám định kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên cũng như biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 13 giờ 05 phút ngày 03/8/2020 đối với Lò Văn Đ.

Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lò Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2]. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào những quy định của Nhà nước trong việc quản lý, sử dụng các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy cần xử lý nghiêm minh nhằm răn đe và phòng ngừa chung.

[3]. Về tình tiết định khung hình phạt: Khối lượng ma túy thu giữ của Lò Văn Đ là 0,08 gam Heroine và 0,1 gam Methamphetamine. Theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 19/2018/NĐ - CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự thì tổng khối lượng hai chất ma túy được cộng vào để làm căn cứ truy tố, xét xử đối với bị cáo là 0,08 gam + 0,1 gam = 0,18 gam. Khối lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ ở trong khoảng từ 0,1 gam đến dưới 5 gam bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 01 đến 05 năm tù.

[4]. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại huyện M, tỉnh Điện Biên được bố mẹ nuôi cho ăn học hết lớp 4/10 thì ở nhà lao động sản xuất.

Năm 1986 kết hôn với chị Lò Thị I, sinh năm 1966 và có với nhau 02 người con. Ngày 04/12/1997 bị Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo xử phạt 24 tháng tù vê tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" đến nay đã được xóa án tích. Bị cáo là một người ông, người chồng, người cha trụ cột trong gia đình nhưng do thiếu ý thức rèn luyện, tu dưỡng đạo đức để thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên đã bất chấp pháp luật, đi vào con đường phạm tội. Bản thân bị cáo là người nghiện chất ma túy đã đi chấp hành án về không coi đó là bài học rút kinh nghiệm cho bản thân, mà còn lao vào con đường phạm tội. Bởi vậy Hội đồng xét xử cần đưa ra mức án thật nghiêm khắc, để cải tạo giáo dục bị cáo và cũng là cơ hội để bị cáo cai nghiện ma túy. Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình. Nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Tuy nhiên, căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo nên Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống, xã hội một thời gian để bị cáo sửa chữa tội lỗi của mình, sau này trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 của BLHS.

Theo khoản 5 Điều 249 của BLHS quy định bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Song xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo không có khả năng thi hành, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Trong hồ sơ có giấy chứng nhận “Kỷ niệm chương cựu chiến binh” mang tên ông Lò Văn Bương là bố đẻ của bị cáo, HĐXX xét thấy giấy chứng nhận kỷ niệm chương không thuộc các tình tiết giảm nhẹ theo quy định của pháp luật.

Nên HĐXX không xem xét.

[5]. Về nguồn gốc số Heroine, Methamphetamine bị thu giữ, bị cáo khai mua của một bé trai vào ngày 03/8/2020. Quá trình điều tra không có cơ sở để làm rõ đối tượng nên HĐXX không đặt vấn đề xem xét.

[6]. Về vật chứng: Hội đồng xét xử thấy rằng: 0,04 gam Heroine và 0,07 gam Methamphetamine, là vật chứng còn lại sau khi gửi mẫu giám định và vật chứng hoàn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.

[7]. Về án phí: Bị cáo Lò Văn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Nhưng bị cáo sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí nên miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

[8]. Về đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát xét thấy phù hợp nên hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

[9]. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[10]. Trong quá trình điều tra, truy tố thấy rằng: Các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn Đ phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Áp dụng: Điểm i Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự xử phạt: Lò Văn Đ 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03 tháng 8 năm 2020.

2. Vật chứng: Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a Khoản 2 Điều 106 của BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 0,04 gam Heroine và 0,07 gam Methamphetamine là vật chứng còn lại sau khi gửi mẫu giám định và vật chứng hoàn lại sau giám định (Chi Cục thi hành án dân sự huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/10/2020).

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn Đ.

4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


25
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về