Bản án 01/2020/HS-ST ngày 08/01/2020 về trộm cắp Tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 01/2020/HS-ST NGÀY 08/01/2020 VỀ TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 08 tháng 01 năm 2020 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 219/2019/TLST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 244/2019/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo:

- Nguyễn Văn L, sinh năm 1970, tại: Đà Nẵng; Hộ khẩu thường trú: không ổn định; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: không biết chữ; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị T; Có vợ tên Nguyễn Thị Hoàng O, sinh năm 1987 và 01 con sinh năm 2008; tiền sự: tháng 3/2017 bị đưa đi cai nghiện bắt buộc; tiền án: không; Nhân thân; Ngày 25/9/1989, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 504/bis). Ngày 25/9/1994, Tòa án nhân dân tỉnh Sông Bé xử phạt 15 năm về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 11/HSST). Ngày 03/5/2013 Tòa án nhân dân quận Tân Phú xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 94/2013/HSST). Ngày 22/01/2015 Tòa án nhân dân quận Tân Bình Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 24 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” (Bản án số 14/2015/HSST) ; tạm giữ, tạm giam ngày: 19/9/2019; (Có mặt).

- Bị hại: Anh Lê Thái H, sinh năm 1985; Trú tại: đường D, Phường S, quận G, TP. HCM; (Vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/- Anh Trương Văn L, sinh năm 1992; Trú tại: ấp B, xã Đ, thị xã M, tỉnh Vĩnh Long. (Vắng mặt);

2/- Bà Phạm Tuyết H1, sinh năm 1967; Trú tại: ấp B, xã Đ, thị xã M, tỉnh Vĩnh Long. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

 Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 03 giờ 30 phút ngày 19/9/2019, Nguyễn Văn L điều khiển xe đạp trên nhiều tuyến đường để tìm nhà nào có tài sản sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đi L đem theo đoản sắt tự chế hình chử L làm công cụ gây án. Khi đi đến bãi giữ xe trên đường D, phường S, quận Gò Vấp thì thấy có giữ nhiều xe gắn máy và không có người trông coi nên L lén lút đi đến chiếc xe gắn máy biển số 64H1 – 281.51 đẩy chiếc xe đi khoảng 30cm rồi dùng đoản sắt bẻ gẫy ổ khóa thì đúng lúc này anh Lê Thái H là chủ bãi xe phát hiện cùng nhân viên chạy ra bắt giữ L cùng công cụ gây án chuyển giao cho Công an phường S, quận Gò Vấp lập biên bản phạm tội quả tang.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Gò Vấp Nguyễn Văn Lộc đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp của bản thân như đã nêu trên.

Vật chứng gồm:

01 chiếc xe gắn máy hiệu Honda Vario màu trắng biển số 64H1 – 281.51. Tại bản kết luận định giá tài sản số: 256/KL, ngày 23/9/2019 thì xe này có trị giá là 42.333.000 đồng. Qua xác minh xe này do chị Phạm Tuyết H1 đứng tên chủ sở hữu, chị H1 cho con trai là Trương Văn L làm phương tiện đi lại, anh L từng làm việc tại bãi giữ xe và có mượn của anh Lê Thái H (chủ bãi giữ xe) số tiền 20.000.000 đồng và L đã để xe này cho anh H để làm tin đến ngày 19/9/2019 thì bị mất trộm nêu trên.

Chị H1 và anh H đã thỏa thuận được số tiền 20.000.000 đồng mà L đã vay. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cho chị Phạm Tuyết H1, chị H1 đã nhận lại xe và không yêu cầu L bồi thường gì thêm.

01 (một) xe đạp thồ hàng đã han rỉ, không rõ chủng loại;

01 (một) tay cầm kim loại hình chữ L màu trắng, kích thước 06x13cm;

01 (một) thanh kim loại màu đen mài dẹp phần đầu dài khoảng 7,5cm;

Riêng đối với 01USB màu xanh hiệu KingSton 2GB ghi nhận hình ảnh Nguyễn Văn L trộm cắp tài sản. Cơ quan chuyển theo hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 210/CTr-VKS, ngày 25/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố Nguyễn Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017;

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 01 năm 6 tháng đến 02 năm tù.

- Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

Áp dụng Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 1, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Tịch thu và tiêu hủy 01 tay cầm kim loại hình chữ L kích thước 6x13cm, 01 thanh kim loại màu đen được mài dẹp phần đầu kích thước dài khoảng 7,5 cm.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước chiếc xe đạp thồ hàng đã han rỉ không rõ chủng loại.

- Tịch thu bổ sung chứng cứ hồ sơ 01 USB màu xanh hiệu KingSton 2GB.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì Nguyễn Văn L đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

[2] Đối chiếu lời khai bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, cùng với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Công an quận Gò Vấp, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

Do đó, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của Nguyễn Văn L đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt trừng trị được quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017.

[3] Lợi dụng sự sơ hở của bị hại, bị cáo đã lén lút lấy trộm tài sản rất táo bạo và liều lĩnh. Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được Pháp luật và Nhà nước bảo hộ. Mặt khác, còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội và tác động xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Chỉ vì muốn tiêu xài phục vụ cho những nhu cầu cá nhân của mình mà không phải thông qua lao động chân chính bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, việc xử lý bị cáo bằng biện pháp hình sự là hết sức cần thiết và đúng quy định của pháp luật. Xét nhân thân bị cáo xấu đã có nhiều lần bị xử lý về hành vi “trộm cắp tài sản” (đã được xóa án) và xử lý hành chính cai nghiện bắt buộc, nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện ý thức bị cáo rất xem thường pháp luật. Vì vậy, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài nhằm giúp cho bị cáo có điều kiện học tập cải tạo lại mình sau này biết tôn trọng pháp luật và tôn trọng tài sản của người khác.

[4] Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo một số tình tiết: Tại Cơ quan điều tra và qua diễn biến phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thật thà khai báo thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

[5] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, xét tính chất vụ án và bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa hôm nay bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại được tài sản bị chiếm đoạt và thỏa thuận về số tiền nợ với nhau, hiện không thắc mắc hay khiếu nại gì nên tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử không xem xét lại.

[7] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 xe gắn máy hiệu Honda Vario màu trắng biển số 64H1 – 281.51. Qua xác minh xe này do chị Phạm Tuyết H1 đứng tên chủ sở hữu, chị H1 cho con trai là Trương Văn L làm phương tiện đi lại, anh L từng làm việc tại bãi giữ xe và có mượn của anh Lê Thái H (chủ bãi giữ xe) số tiền 20.000.000 đồng và L đã để xe này cho anh H để làm tin đến ngày 19/9/2019 thì bị mất trộm nêu trên. Chị H1 và anh H đã thỏa thuận được số tiền 20.000.000 đồng mà L đã vay. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe cho chị Phạm Tuyết H1, chị H1 đã nhận lại xe và không yêu cầu L bồi thường gì them. Hội đồng xét xử nhận thấy việc trả lại tài sản đó là đúng quy định của pháp luật và không ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên tại phiên tòa hôm nay không đưa ra xem xét lại.

- Đối với 01USB màu xanh hiệu KingSton 2GB ghi nhận hình ảnh Nguyễn Văn L trộm cắp tài sản là chứng cứ bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu bổ sung chứng cứ hồ sơ.

- Đối với 01 tay cầm kim loại hình chữ L kích thước 6x13cm, 01 thanh kim loại màu đen được mài dẹp phần đầu kích thước dài khoảng 7,5 cm là dụng cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu và tiêu hủy.

- Đối với chiếc xe đạp thồ hàng đã han rỉ không rõ chủng loại là phương tiện bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung quỹ nhà nước.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp Tài sản”;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 02 (hai) năm tù. Thời han tu đươc tinh kê tư ngày tạm giữ, tạm giam 19/9/2019.

Áp dụng Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017; khoản 1, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu bổ sung chứng cứ hồ sơ 01USB màu xanh hiệu KingSton 2GB ghi nhận hình ảnh Nguyễn Văn L trộm cắp tài sản.

Tịch thu sung quỹ nhà nước chiếc xe đạp thồ hàng đã han rỉ không rõ chủng loại.

Tịch thu và tiêu hủy 01 tay cầm kim loại hình chữ L kích thước 6x13cm, 01 thanh kim loại màu đen được mài dẹp phần đầu kích thước dài khoảng 7,5 cm.

(Theo phiếu nhập kho số 198/PNK, ngày 15/10/2019 của Công an quận Gò Vấp).

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án; Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.

Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014)


35
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 01/2020/HS-ST ngày 08/01/2020 về trộm cắp Tài sản

Số hiệu:01/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Gò Vấp - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:08/01/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về