Bản án 01/2019/HS-ST ngày 09/01/2019 về tội giết người

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 01/2019/HS-ST NGÀY 09/01/2019 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI

Ngày 09 tháng 01 năm 2019 tại Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 66/2018/TLST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2018/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo:

Phan Minh C, tên gọi khác: T, sinh năm 1974 tại tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Số 66, đường P, khu phố T, phường S, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hoá: 08/12; dân tộc: Kinh ; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Hồng T, sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1947; có vợ là Nguyễn Thị Xuân V, sinh năm 1979 và 02 con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không;

Bị tạm giữ từ ngày 11/10/2018 đến ngày 17/10/2018 chuyển tạm giam đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Nguyễn Thành S, sinh năm 1974 (đã chết)

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

1/ Ông Nguyễn Thanh M, sinh năm 1944; Nơi cư trú: Số 23, khu phố L, phường S, thành phố T, tỉnh Tây Ninh;

2/ Bà Cao Thị H, sinh năm 1950; Nơi cư trú: Số 23, khu phố L, phường S, thành phố T, tỉnh Tây Ninh;

3/ Chị Trần Thị T, sinh năm 1974; Nơi cư trú: Khu phố L, phường S, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.

4/ Chị Nguyễn Thụy Như Q, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Khu phố L, phường S, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. 

Ông M, bà H, chị Q ủy quyền cho chị Trần Thị T tham gia tố tụng theo Văn bản ủy quyền ngày 24/10/2018. Chị Trần Thị T có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 11/10/2018, sau khi uống rượu ở nhiều nơi, bị cáo Phan Minh C tiếp tục uống rượu với anh Nguyễn Thành S, chị Nguyễn Thị Xuân L, chị Nguyễn Thị Ngọc D và chị Nguyễn Thị Ngọc X tại quán G thuộc khu phố N, phường S, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Tại đây, bị cáo C và anh S có tranh cãi, gây gổ. Anh S rời khỏi quán và ra về. Đến 15 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo C cũng trở về nhà riêng tại khu phố T, phường S, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.

Về đến nhà, bị cáo C nhận điện thoại của anh S, hai bên tiếp tục cãi vả. Bị cáo C thách thức anh S "mày muốn gì xuống đây". Anh S điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 70B1-758.42 đến nhà bị cáo, dùng cây tầm vông đánh mạnh vào hàng rào B40 và tiếp tục mắng chửi bị cáo. Tức giận trước hành động của anh S, bị cáo C vào nhà bếp lấy 01 con dao Thái Lan bằng kim loại dài 22,5cm, cán bằng cây dài 11,5cm, phần lưỡi có đầu nhọn, phần rộng nhất của lưỡi dap dài 1,8cm rồi chạy đến chỗ anh S nhưng bị chị Nguyễn Thị Xuân V, là vợ của bị cáo và là em ruột của anh S đóng cổng can ngăn. Bị cáo đẩy chị V ra và tiến đến đứng đối diện với anh S. Anh S dùng cây tầm vông đánh một cái trúng vào vai phải của bị cáo. Bị cáo C cầm dao bằng tay phải, mũi dao hướng từ ngón út đến ngón cái, đâm thẳng vào đường nách sau trái của anh S một nhát. Anh S tiếp tục dùng cây tầm vông đánh vào ngực và tay trái của bị cáo. Bị cáo tiếp tục đâm một nhát vào vùng ngực phải và một nhát vào bờ sườn phải của anh S rồi rút dao ra bỏ chạy vào nhà rửa dao và vứt dao tại sân nhà. Anh S gục ngã tại chỗ, được đưa đi cấp cứu nhưng đã tử vong.

* Kết luận giám định pháp y về tử thi số 1334/KL-KTHS ngày 16/10/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh về nguyên nhân chết của anh Nguyễn Thành S: Sốc mất máu do vết thương thấu ngực làm thủng phổi, thủng động mạch phổi do vật sắc nhọn gây nên.

* Kết luận giám định số 1337/KL-KTHS ngày 18/10/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh:

+ Mẫu máu ghi thu của Nguyễn Thành S có nồng độ cồn trong máu là 56,684mg/100ml.

+ Mẫu máu ghi thu của Phan Minh C có nồng độ cồn trong máu là 16,262mg/100ml.

* Kết luận giám định số 1418/KL-KTHS ngày 02/11/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh:

+ Trên 01 con dao dài 22,5cm, cán bằng cây dài 11,5cm, phần lưỡi bằng kim loại có đầu nhọn, phần rộng nhất của lưỡi dao dài 1,8cm thu tại vị trí số 07 ở hiện trường không dính máu.

+ Vết màu nâu đỏ ở vị trí số 01 tại hiện trường là máu, thuộc máu người, nhóm O, cùng nhóm với nhóm máu của Nguyễn Thành S và Phan Minh C.

* Vật chứng thu giữ:

+ 02 đoạn cây tầm vông (01 đoạn dài 0,66m đừng kính 0,025m và 01 đoạn dài 0,37m, đường kính 0,025m);

+ 01 cục đá không rõ hình, kích thước 0,1m x 0,075m x 0,08m;

+ 01 ổ khóa ở phía trên có chữa YETI (đã qua sử dụng);

+ 01 con dao Thái Lan dài 22,5cm, cán bằng cây dài 11,5cm, phần lưỡi bằng kim loại có đầu nhọn, phần rộng nhất của lưỡi dao dài 1,8cm (đã qua sử dụng);

+ 01 áo thun ngắn tay màu trắng (đã qua sử dụng);

+ 01 quần đùi sọc màu xám (đã qua sử dụng);

+ 01 cái quần sọt màu xanh, chấm bi màu trắng (đã qua sử dụng);

+ 01 điện thoại hiệu NOKIA 203, màu đen bạc, số seri 1: 354893085540920; số seri 2: 354893085540938 (đã qua sử dụng).

* Trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo đã thanh toán 60.000.000 đồng chi phí mai táng cho bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường, có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại bản Cáo trạng số: 35/CT-VKS-P2, ngày 28 tháng 11 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị can Phan Minh C về tội “Giết người”; theo khoản 2 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Phan Minh C đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh trong phần tranh luận đã giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo Phan Minh C về tội "Giết người", đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 2 Điều 123; điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Minh C từ 05 đến 06 năm tù về tội “Giết người”.

Về xử lý vật chứng, áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo đúng quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận gia đình bị cáo đã thanh toán 60.000.000 đồng chi phí mai táng cho bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường, có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên không đặt ra giải quyết.

Bị cáo không tham gia tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi của mình. Bị cáo xin lỗi gia đình anh S và gia đình vợ của bị cáo. Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về đoàn tụ với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo C không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Phan Minh C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo C phù hợp với các chứng cứ, tài liệu, kết luận giám định thể hiện trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định: Sau khi cùng nhau uống rượu, bị cáo Phan Minh C và anh Nguyễn Thành S nảy sinh mâu thuẫn, cãi vả. Anh S điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 70B1-758.42 đến nhà bị cáo, dùng cây tầm vông đánh vào hàng rào và mắng chửi bị cáo. Anh S dùng cây tầm vông đánh bị cáo nên bị cáo đã dùng 01 con dao Thái Lan bằng kim loại dài 22,5cm, cán bằng cây dài 11,5cm, phần lưỡi có đầu nhọn, phần rộng nhất của lưỡi dao dài 1,8cm đâm thẳng vào đường nách sau trái của anh S một nhát, đâm một nhát vào vùng ngực phải và một nhát vào bờ sườn phải của anh S. Anh Nguyễn Thành S bị sốc mất máu do vết thương thấu ngực làm thủng phổi, thủng động mạch phổi dẫn đến tử vong. Do đó, có đủ cơ sở xác định bị cáo Phan Minh C phạm tội “Giết người”; theo khoản 2 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.

[3] Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về tính mạng của con người được pháp luật bảo vệ, gây đau thương mất mát cho gia đình nạn nhân, gây mất trật tự trị an công cộng. Bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự để nhận thức được mức độ nguy hiểm của hành vi do mình gây ra và thấy trước được hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra nên cần nghiêm trị để răn đe và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo chưa có tiền án tiền sự; đã tác động gia đình bồi thường chi phí mai táng cho gia đình bị hại; người bị hại cũng có một phần lỗi dẫn đến bị cáo bị kích động tinh thần mà phạm tội; đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, e, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Do bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên căn cứ khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức án dưới khung hình phạt.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận gia đình bị cáo đã bồi thường 60.000.000 (sáu mươi triệu) đồng chi phí mai táng cho bị hại. Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên ghi nhận.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với các tài sản khác không có giá trị sử dụng gồm : 02 đoạn cây tầm vông, 01 cục đá, 01 ổ khóa, 01 con dao Thái Lan, 01 áo thun, 01 quần đùi, 01 quần sọt cần tịch thu tiêu hủy. Riêng đối với 01 điện thoại hiệu NOKIA 203, màu đen bạc, số seri 1: 354893085540920; số seri 2: 354893085540938 (đã qua sử dụng) không liên quan đến tội phạm nên tuyên trả lại cho bị cáo.

[7] Từ những phân Tch nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

[8] Về án phí: Theo quy định Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Phan Minh C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào khoản 2 Điều 123; điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Phan Minh C phạm tội "Giết người".

Xử phạt bị cáo Phan Minh C 05 (năm) năm tù. Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày 11/10/2018.

2. Biện pháp tư pháp:

* Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận gia đình bị cáo đã bồi thường 60.000.000 (sáu mươi triệu) đồng chi phí mai táng cho bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường thêm.

* Về xử lý vật chứng, áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm:

+ 02 đoạn cây tầm vông (01 đoạn dài 0,66m đừng kính 0,025m và 01 đoạn dài 0,37m, đường kính 0,025m);

+ 01 cục đá không rõ hình, kích thước 0,1m x 0,075m x 0,08m;

+ 01 ổ khóa ở phía trên có chữa YETI (đã qua sử dụng);

+ 01 con dao Thái Lan dài 22,5cm, cán bằng cây dài 11,5cm, phần lưỡi bằng kim loại có đầu nhọn, phần rộng nhất của lưỡi dao dài 1,8cm (đã qua sử dụng);

+ 01 áo thun ngắn tay màu trắng (đã qua sử dụng);

+ 01 quần đùi sọc màu xám (đã qua sử dụng);

+ 01 cái quần sọt màu xanh, chấm bi màu trắng (đã qua sử dụng).

- Hoàn trả cho bị cáo Phan Minh C 01 điện thoại hiệu NOKIA 203, màu đen bạc, số seri 1: 354893085540920; số seri 2: 354893085540938 (đã qua sử dụng).

Vật chứng được tạm giữ tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.

3. Án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Phan Minh C phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, báo cho các bên biết có quyền kháng cáo lên Tòa án  nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.


151
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 01/2019/HS-ST ngày 09/01/2019 về tội giết người

Số hiệu:01/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Tây Ninh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:09/01/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về