Bản án 01/2018/HSST ngày 03/01/2018 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH

BẢN ÁN 01/2018/HSST NGÀY 03/01/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 03 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2018/TLST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 162/2017/QĐXXST- HS ngày 20 tháng 12 năm 2017 đối với bị cáo:

Lưu Danh D sinh năm 1973, tại thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Số nhà X, ngõ Y, đường P, phố Z, phường Vân Giang, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Danh V và bà Bùi Thị Nh; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không có; tiền sự:

Quyết định số 138/QĐ-XPHC ngày 29/6/2016 Công an thành phố Ninh Bình xử phạt 1.000.000đ về hành vi trộm cắp tài sản.

Quyết định số 112/QĐ-UBND ngày 14/4/2017 Chủ tịch UBND phường Vân Giang quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường thời hạn 03 tháng.

Quyết  định  số  31  ngày  26/6/2017  Công  an  phường  Vân  Giang  xử  phạt 750.000đ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Quyết định số 22/QĐ-TA ngày 13/7/2017 Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Nhân thân:

Ngày 24/3/2012 Công an phường Vân Giang xử phạt 500.000đ hành vi sử dụng trái phép ma túy

Ngày 17/01/2005 UBND thị xã Ninh Bình áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc thời hạn 24 tháng.

Ngay 06/6/2012 UBND thành phố Ninh Bình áp dung biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc thời hạn 24 tháng.

Ngày 14/7/2015 công an phường Ninh Khánh xử phạt 1.500.000đ hành vi trộm cắp tài sản.

Bị bắt tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình từ ngày 10/8/2017 cho đến nay. (có mặt)

Bị hại:

1. Anh Nguyễn Thế Đ sinh năm 1960; nơi cư trú: Phố 1, phường Vân Giang, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)

2. Anh Nguyễn Xuân H sinh năm 1964; nơi cư trú: Phố Võ Thị Sáu, phường Nam Thành, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Văn H1, tên gọi khác: Tr sinh năm 1982; nơi cư trú: Số nhà N, phố B, phường Bích Đào, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)

2. Anh Trần Quốc Th, sinh năm 1979; nơi cư trú: Khu dân cư mới, phố Ph, phường Phúc Thành, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt)

Người tham gia tố tụng khác:1. Anh Đinh Quang N, sinh năm 1985; nơi cư trú: Phố L, phường Nam Bình, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình là người làm chứng. (vắng mặt)

2. Ông Đinh Quốc V, sinh năm 1967; nơi cư trú: Xóm I, thôn Bồ Đình, xã Gia Vượng, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình là người làm chứng. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong hai ngày 24/6/2017 và 15/7/2017 Lưu Danh D đã hai lần trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng 23 giờ ngày 24/6/2017 D điều khiển xe mô tô Wave màu xanh, không có giấy tờ, không có biển số đi từ nhà đến khu vực cầu Non Nước thuộc phố 4, phường Đông Thành, thành phố Ninh Bình, phát hiện nhà của anh Nguyễn Thế Đ, trú tại phố 1, phường Vân Giang, thành phố Ninh Bình đang trong giai đoạn xây dựng, không có người trông coi. Dũng leo lên chui qua ô thoáng phía sau nhà vệ sinh tầng một vào trong nhà anh Đ lấy: 01 máy hàn inox nhãn hiệu AMII model Tig 250 sơn màu vàng; 01 máy hàn inox nhãn hiệu WELDCOM model Tig 200 sơn màu xanh; 01 máy hàn sắt nhãn hiệu Hồng Kỳ loại HK200A sơn màu vàng; 02 máy cắt sắt nhãn hiệu Maktec MT241 sơn màu đỏ; 02 máy cắt sắt cầm tay nhãn hiệu Makita sơn màu xanh công suất 710W và 02 máy khoan bê tông nhãn hiệu Bosch sơn màu xanh công suất 800W. Lấy được số tài sản trên, D mang đến cửa hàng mua bán đồ điện máy cũ của anh Nguyễn Văn H1, địa chỉ phố Bích Sơn, phường Bích Đào, thành phố Ninh Bình, bán 01 máy cắt dập nhãn hiệu Macktec, 02 máy cắt sắt cầm tay nhãn hiệu Makita, 02 máy khoan bê tông nhãn hiệu Bosh cho anh H1 được 1.400.000 đồng. Sau khi mua tài sản của D, anh H1 sửa chữa lại và đã bán lại cho khách; anh H1 không biết tên tuổi, địa chỉ của người này nên không thu hồi được. Số tài sản còn lại D đem về nhà cất giấu. Đến khoảng 09 giờ ngày 25/6/2017 D đi xe mô tô chở 01 máy hàn nhãn hiệu AMII sơn màu vàng; 01 máy hàn nhãn hiệu Weldcom màu xanh; 01 máy hàn nhãn hiệu Hồng Kỳ màu vàng và 01 máy cắt dập nhãn hiệu Maktec đến bán cho anh Trần Quốc Th, địa chỉ phố Ph, phường Phúc Thành, thành phố Ninh Bình được 4.200.000 đồng. Ngày 06/8/2017 anh Trần Quốc Th đã tự nguyện giao nộp lại 01 máy hàn nhãn hiệu AMII sơn màu vàng; 01 máy hàn nhãn hiệu Weldcom màu xanh; 01 máy hàn nhãn hiệu Hồng Kỳ màu vàng và 01 máy cắt dập nhãn hiệu Maktec đã mua của D; Cơ quan CSĐT công an tỉnh Ninh Bình đã trả lại số tài sản nêu trên cho anh Nguyễn Thế Đ.

Lần thứ hai: Khoảng 1h ngày 15/7/2017 D điều khiển xe mô tô Wave màu xanh không có giấy tờ, không có biển số đến phố Ngọc Hà, phường Nam Bình, thành phố Ninh Bình, vào nhà đang xây dựng của anh Đinh Quang N, trú tại phố L, phường Nam Bình, lấy 01 máy hàn loại máy hàn công nghiệp không có vỏ 100A và cuộn dây điện dài khoảng 20m lõi đồng được bọc ngoài bằng cao su của anh Nguyễn Xuân H, trú tại phố Võ Thị Sáu, phường Nam Thành, thành phố Ninh Bình là chủ thầu xây dựng nhà anh Nam. Sau khi lấy được máy hàn và cuộn dây điện, Dũng đưa lên xe mô tô chở đến nhà anh Nguyễn Văn H1 để bán. Khi đi đến đường Trần Quang Khải, phường Bích Đào thì gặp Tổ công tác Công an thành phố Ninh Bình đang làm nhiệm vụ phát hiện, D sợ hãi đã vất máy hàn cùng cuộn dây điện xuống đường rồi bỏ trốn. Tổ công tác đã đưa chiếc máy hàn và cuộn dây điện về trụ sở Công an phường Bích Đào lập biên bản tạm giữ, sau đó chuyển tang vật đến trụ sở Công an thành phố Ninh Bình quản lý.

Khoảng 5 giờ sáng ngày 15/7/2017 anh Đinh Quốc V, trú tại xã Gia Vượng, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình nằm ngủ ở lán để trông coi vật liệu cho anh N, tỉnh dậy đi vào nhà lên tầng hai kiểm tra thì phát hiện bị mất máy hàn và cuộn dây điện. Đến khoảng 7 giờ anh V nói lại sự việc với anh H, anh H viết đơn trình báo đến Công an thành phố Ninh Bình.

Tại kết luận định giá tài sản số 46 ngày 08/8/2017 Hội đồng định giá tài sản UBND thành phố Ninh Bình định giá: 01 chiếc máy hàn Tig nhãn hiệu Amii 250A, màu vàng trị giá 2.500.000đ; 01 Chiếc máy hàn nhãn hiệu Hồng Kỳ HK200A, màu vàng trị giá 2.000.000đ; 01 chiếc máy hàn Inoc nhãn hiệu Weldcom Vtig 200S, màu xanh trị giá 2.000.000đ; 02 chiếc máy cắt dập (cắt sắt) nhãn hiệu Maktec MT 241, màu đỏ trị giá 2.400.000đ; 02 chiếc máy cắt sắt nhãn hiệu Makiata 700W, màu xanh trị giá 1.100.000đ; 02 chiếc máy khoan bê tông nhãn hiệu Bosch 800W màu xanh trị giá 4.200.000đ; tổng giá trị tài sản là 14.200.000đ.

Tại kết luận định giá tài sản số 65 ngày 29/9/2017 Hội đồng định giá tài sản UBND thành phố Ninh Bình định giá: 01 chiếc máy hàn trần 100A trị giá 2.000.000đ, 01 đoạn dây hàn lõi đồng bọc bên ngoài bằng cao su dài 20m trị giá 1.100.000đ; tổng trị giá tài sản là 3.100.000đ.

Đối với anh Trần Quốc Th và anh Nguyễn Văn H là những người đã mua số tài sản trộm cắp của Lưu Danh D, khi mua anh Th và anh H1 đều không biết đó là tài sản do D trộm cắp mà có; vì vậy, không có căn cứ để xử lý đối với anh Th, anh H1.

Anh Trần Quốc Th không yêu cầu Lưu Danh D phải bồi hoàn cho anh số tiền đã bỏ ra để mua số tài sản trộm cắp của D (4.200.000 đồng).

Anh Nguyễn Xuân H đã nhận lại tài sản bị mất và không có yêu cầu đề nghị gì khác. Anh Nguyễn Thế Đ đã nhận lại một phần tài sản bị mất, đối với những tài sản không thu hồi được, anh Đ không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.

Đối với chiếc xe mô tô Wave màu xanh, không biển kiểm soát, không có đăng kí, D đã bán cho một người không rõ tên tuổi địa chỉ ở địa phận xã Yên Bằng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Vì vậy, Cơ quan CSĐT không có cơ sở để điều tra xác minh và làm rõ.

Tại Bản cáo trạng số 162/CT-VKS ngày 21/11/2017, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố Lưu Danh D ra trước Toà án nhân thành phố Ninh Bình để xét xử về Tội trộm cắp tài sản, theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên toà giữ nguyên quyết định như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Lưu Danh D phạm Tội trộm cắp tài sản.

- Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội, xử phạt bị cáo Lưu Danh D từ 12 - 18 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/8/2017.

- Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự năm 1999, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Buộc bị cáo Lưu Danh D phải nộp lại số tiền thu được từ việc bán tài sản cho anh Nguyễn Văn H1 là 1.400.000 đồng, bán cho anh Trần Quốc Th là 4.200.000 đồng để tịch thu sung Quỹ nhà nước.

Tại phiên tòa bị cáo D khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu; xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai tại phiên toà của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng của vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ nêu trên đủ căn cứ kết luận: Trong hai ngày 24/6/2017 và 15/7/2017, trên địa bàn thành phố Ninh Bình, bị cáo Lưu Danh D đã 02 lần trộm cắp tài sản của người khác có tổng trị giá 17.300.000 đồng, cụ thể:

[2] Lần thứ nhất: Ngày 24/6/2017, tại ngôi nhà đang xây dựng của anh Nguyễn Thế Đ thuộc phố 4, phường Đông Thành, thành phố Ninh Bình, bị cáo Lưu Danh D đã đột nhập vào trong nhà, lén lút chiếm đoạt của anh Đ 01 máy hàn inox nhãn hiệu AMII model Tig 250 sơn màu vàng; 01 máy hàn inox nhãn hiệu WELDCOM model Tig 200 sơn màu xanh; 01 máy hàn sắt nhãn hiệu Hồng Kỳ loại HK200A sơn màu vàng; 02 máy cắt sắt nhãn hiệu Maktec MT241 sơn màu đỏ; 02 máy cắt sắt cầm tay nhãn hiệu Makita sơn màu xanh công suất 710W và 02 máy khoan bê tông nhãn hiệu Bosch sơn màu xanh công suất 800W; tổng trị giá tài sản mà D đã chiếm đoạt là 14.200.000 đồng.

[3] Lần thứ hai: Ngày 15/7/2017, tại ngôi nhà đang xây dựng của anh Đinh Quang N thuộc phố Ngọc Hà, phường Nam Bình, thành phố Ninh Bình, bị cáo Lưu Danh D đã đột nhập vào trong nhà, lén lút chiếm đoạt của anh Nguyễn Xuân H 01 máy hàn loại máy hàn công nghiệp không có vỏ 100A và cuộn dây điện dài 20m lõi đồng được bọc ngoài bằng cao su; tổng trị giá tài sản mà D đã chiếm đoạt là 3.100.000 đồng.

[4] Hành vi của bị cáo xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật công nhận, bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.

[5] Đối chiếu với quy định của pháp luật hình sự thấy hành vi, tội danh và điều khoản áp dụng tại bản cáo trạng, lời luận tội, các chứng cứ buộc tội bị cáo như Kiểm sát viên trình bày tại phiên toà là có căn cứ. Hành vi của bị cáo Lưu Danh D đã phạm Tội trộm cắp tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

[6] Ngoài việc xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác, hành vi của bị cáo còn gây mất an ninh trật tự, ảnh hưởng xấu đến đời sống nhân dân trong khu vực. Để bảo vệ trật tự xã hội, có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung thì việc truy tố, đưa ra xét xử, buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là cần thiết.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo; vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo đã có thời gian phục vụ trong quân đội; bố đẻ của bị cáo là Thương binh, có công trong cuộc kháng  chiến  chống  Pháp,  chống  Mỹ  cứu  nước  được  tặng  thưởng  nhiều  Huân chương, Huy chương; vì vậy, xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “phạm tội nhiều lần”, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự.

[8] Về nhân thân: Bị cáo đã nhiều lần bị xử lý hành chính nhưng vẫn không chịu ăn năn hối cải, sửa chữa lỗi lầm mà tiếp tục phạm tội, thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu, khó giáo dục, cải tạo.

[9] Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt bị cáo Lưu Danh D một mức hình phạt thoả đáng, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra. Cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tạo điều kiện cho bị cáo học tập, cải tạo thành người có ích cho gia đình và xã hội.

[10] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã trả lại 01 máy hàn nhãn hiệu AMII sơn màu vàng, 01 máy hàn nhãn hiệu Weldcom màu xanh, 01 máy hàn nhãn hiệu Hồng Kỳ màu vàng và 01 máy cắt dập nhãn hiệu Maktec cho anh Nguyễn Thế Đ; trả lại 01 máy hàn loại máy hàn công nghiệp không có vỏ 100A và cuộn dây điện dài khoảng 20m lõi đồng được bọc ngoài bằng cao su cho anh Nguyễn Xuân H là có căn cứ. Sau khi nhận lại số tài sản bị mất anh Đ và anh H không có yêu cầu đề nghị gì về phần trách nhiệm dân sự nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[11] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi hoàn khoản tiền mua bán tài sản trộm cắp; vì vậy, buộc bị cáo Lưu Danh D phải nộp lại số tiền thu được từ việc bán tài sản cho anh Nguyễn Văn H1 là 1.400.000 đồng, bán cho anh Trần Quốc Th là 4.200.000 đồng (tổng 5.600.000đ) để tịch thu sung Quỹ nhà nước.

[12] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo mức án phí quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[13] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[14] Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp, đúng thẩm quyền, đúng trình tự quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Lưu Danh D phạm Tội trộm cắp tài sản.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo Lưu Danh D 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/8/2017.

3. Áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, Điều 357 của Bộ luật Dân sự:

- Buộc bị cáo Lưu Danh D phải nộp lại 5.600.000 đồng (Năm triệu sáu trăm nghìn đồng) để tịch thu sung Quỹ nhà nước.

- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền (trừ tiền án phí), hàng tháng người phải thi hành án phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Lưu Danh D phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày. Thời hạn kháng cáo của người có mặt tại phiên toà tính từ ngày tuyên án (03/01/2018), thời hạn kháng cáo của người vắng mặt tại phiên toà tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

(Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự, có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của  Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.)


80
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về