Bản án 01/2018/HNGĐ-ST ngày 09/02/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

BẢN ÁN 01/2018/HNGĐ-ST NGÀY 09/02/2018 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 09 tháng 02 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 21/2017/TLST-HNGĐ ngày 19/10/2017 về việc "Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 01 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Bích D, sinh năm 1994;

Địa chỉ: Ngõ 66/2 đường A, phường B, quận C, thành phố Hà Nội (có mặt).

Bị đơn: Anh Hoàng Minh Đ, sinh năm 1988; HKTT: Khu E, phường G, thị xã H, tỉnh Vĩnh Phúc

Chỗ ở hiện nay: X 189, 747 25 Sudice - Cộng Hòa Séc (vắng mặt - có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn đề ngày 02 tháng 10 năm 2017 và các lời khai tiếp theo tại Tòa án nguyên đơn chị Ngô Thị Bích D trình bày:

Chị đăng ký kết hôn với anh Hoàng Minh Đ ngày 15/11/2016 tại Ủy ban nhân dân phường G, thị xã H, tỉnh Vĩnh Phúc. Ngày 20/11/2016 anh chị tổ chức ăn hỏi nhưng sau đó không tổ chức lễ cưới và không chung sống với nhau ngày nào. Từ khi đăng ký kết hôn chị và anh Đ phát sinh nhiều mâu thuẫn, không thể chung sống với nhau.

Đến ngày 02/3/2017 anh Đ đi làm ăn tại Cộng hòa Séc và bảo chị ở nhà tự giải quyết việc ly hôn. Do mục đích hôn nhân không đạt được, chị và anh Đ đã thống nhất việc ly hôn nên chị đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc giải quyết cho anh chị được ly hôn.

Bị đơn anh Hoàng Minh Đ vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại bản tự khai ngày 22/11/2017 anh Đ trình bày và xác nhận:

Về thời gian kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn giữa anh và chị D như chị D trình bày là đúng. Từ ngày anh đi làm ăn tại Cộng hòa Séc tình cảm vợ chồng không còn, chị D có đơn xin ly hôn anh hoàn toàn nhất trí.

Về con chung: Chị Ngô Thị Bích D và anh Hoàng Minh Đ đều thừa nhận vợ chồng không có con chung.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ: Chị Ngô Thị Bích D và anh Hoàng Minh Đ thừa nhận không có.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phát biểu quan điểm như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án từ thời điểm nhận đơn khởi kiện cho đến khi thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Quá trình điều tra, thu thập chứng cứ và việc chấp hành thời hạn chuẩn bị xét xử từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử Thẩm phán giải quyết vụ án đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự. Do bị đơn đã có lời khai và có đơn xin xét xử vắng mặt nên bị đơn cũng đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.

Những yêu cầu, kiến nghị về thủ tục tố tụng: Không có.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 477 Bộ luật tố tụng dân sự. Xử cho chị Ngô Thị Bích D và anh Phạm Minh Đ được ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về tố tụng: Anh Hoàng Minh Đ đã nhận được Thông báo về việc thụ lý, ngày mở phiên họp, phiên tòa nhưng anh không thể về để tham gia tiến hành hòa giải, do vậy Tòa án không thể tiến hành hòa giải được. Tại phiên tòa anh Hoàng Minh Đ vắng mặt nhưng anh có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh, nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh Đ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân gia đình: Chị Ngô Thị Bích D kết hôn với anh Hoàng Minh Đ có đăng ký kết hôn ngày 15/11/2016 tại Ủy ban nhân dân phường G, thị xã H, tỉnh Vĩnh Phúc, đây là hôn nhân tự nguyện, hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị đã nảy sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không hòa hợp với nhau nên không tổ chức lễ cưới và không về chung sống ngày nào. Nay chị D và anh Đ xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đều đồng ý ly hôn. Chứng tỏ mâu thuẫn của vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, cả hai cùng đồng ý ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định của Luật hôn nhân và gia đình, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về con chung: Chị Ngô Thị Bích D và anh Hoàng Minh Đ không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ: Chị Ngô Thị Bích D và anh Hoàng Minh Đ không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Chị Ngô Thị Bích D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 477 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Cho chị Ngô Thị Bích D và anh Hoàng Minh Đ được ly hôn.

Về án phí: Chị Ngô Thị Bích D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: AA/2016/0003622 ngày 16 tháng 10 năm 2017 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc. Chị D đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.


43
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 01/2018/HNGĐ-ST ngày 09/02/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:01/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Vĩnh Phúc
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:09/02/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về