Bản án 01/2017/HSST ngày 26/10/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 01/2017/HSST NGÀY 26/10/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 26 tháng 10 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh SơnLa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2017/HSST ngày 03 -10 -2017, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2017/HSST-QĐ, ngày 16-10- 2017 đối với bị cáo:

Quàng Văn T; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1997; tại xã C, thành phố S, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản T, xã C, thành phố S, tỉnh Sơn La; dân tộc: Thái; trình độ văn hoá: 9/12; nghề nghiệp: Trồng trọt; con ông: Quàng Văn O, 64 tuổi; con bà: Quàng Thị D, 62 tuổi; bị cáo chưa có vợ con; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ tạm từ ngày 31-7-2017 cho đến nay có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ, ngày 31-7-2017 tổ công tác Đội hình sự, Công an huyện TC, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực tại tiểu khu 4, xã TL, huyện TC, tỉnh Sơn La phát hiện và bắt quả tang Quàng Văn T; nơi cư trú: Bản T, xã C, thành phố S, tỉnh Sơn La có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ vật chứng gồm:

- 01 (một) gói nilon màu xanh, bên trong có chứa một ít bột cục màu trắng nghi là Heroin ( T khai là Heroin), có trọng lượng 0,46 gam. Rút 0,05 gam ký hiệu T1 làm mẫu vật giám định chất ma túy. Còn lại 0,41 gam ký hiệu T2 ( đã được niêm phong).

- Một xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe EXCITER, mang BKS: 26B1 –198.90, xe đã qua sử dụng cũ.

Tại bản kết luận giám định số: 795/KLGĐ, ngày 01-8-2017 của Phòng kỹ thuật Công an tỉnh Sơn La: “Mẫu gửi giám định ký hiệu T1 là chất ma túy, loại chất Heroin. Trọng lượng của mẫu gửi giám định là 0,05 gam. Trọng lượng chất ma túy thu giữ được là 0,46 gam loại chất Heroin”. ( Không hoàn lại mẫu vật gửi giám định).

Tại cơ quan điều tra bị cáo Quàng Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau:

Khoảng 9 giờ ngày 31-7-2017, Quàng Văn T đang ở nhà tại bản T, xã C, thành phố S, tỉnh Sơn La có một người bạn tên H, nhà ở xã CX, thành phố S, tỉnh Sơn La đến rủ T đi lên xã TM, huyện TC, tỉnh Sơn La để mua ma túy về sử dụng, T đồng ý và mượn xe của anh rể là Quàng Văn U; trú tại: Bản N, xã CĐ, thành phố S, tỉnh Sơn La rồi giao xe cho H điều khiển trở T đi mua ma túy. Khi H và T đến bản T, xã TM, huyện TC, tỉnh Sơn La cả hai đi vào nhà của một người đàn ông dân tộc Thái ( T không biết họ tên) để hỏi mua Heroin. Khi gặp người đàn ông đó H đã hỏi mua được 01 gói Heroin với giá 300.000đ. Sau khi mua được Heroin, H đưa cho T cầm, T cầm lấy gói Heroin và cho vào ngậm trong miệng, rồi H điều khiển xe mô tô trở T về thành phố S, tỉnh Sơn La. Khi H và T đi đến tiểu khu 4, xã TL, huyện TC, tỉnh Sơn La, H dừng xe lại đi vào quán nước ven đường để mua thẻ điện thoại, T đứng ngoại đợi. Cùng lúc đó tổ công tác Công an huyện TC, tỉnh Sơn La đến yêu cầu kiểm tra ma túy đối với T. Do sợ bị phát hiện T đã nuốt gói Heroin vào trong bụng nhưng vẫn bị tổ công tác phát hiện đưa về trụ sở UBND xã TL, huyện TC, tỉnh Sơn La gây nôn và thu giữ được vật chứng như đã nêu. Đồng thời tổ công tác lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang đối với Quàng Văn T.

Tại bản cáo trạng số: 154/KSĐT, ngày 03-10-2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Quàng Văn T về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Quàng Văn T về điều, khoản và tội danh trên.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Quàng Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết 41/2017/QH14, ngày 20-6-2017 của Quốc Hội; khoản 3 Điều 7; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Quàng Văn T mức án từ 14 tháng đến 18 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31-7-2017.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo Quàng Văn T.

Áp dụng Điều 41 BLHS năm 1999 và Điều 76 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy: Chất ma túy, loại chất Heroin có trọng lượng 0,41 gam đã được niêm phong trong một phong bì thư;

Chấp nhận việc Cơ quan điều tra Công an huyện TC, tỉnh Sơn La đã trả lại cho anh Quàng Văn U một xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe EXCITER, mang BKS: 26B1 – 198.90, xe đã qua sử dụng cũ.

Bị cáo Quàng Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của bị Quàng Văn T: Nhất trí như lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi phạm tội của mình xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt mức thấp nhất cho bị cáo sớm được trở lại với gia đình và cộng đồng xã hội. Đề nghị miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện TC, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Ngày 31-7-2017, Quàng Văn T; trú tại: Bản T, xã C, thành phố S, tỉnh Sơn La đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,46 gam Heroin. Mục đích tàng trữ để sử dụng cho bản thân. ( BL số: 19 đến 20, 33 đến 46 HS).

Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay, hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, Biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Trên cơ sở đó có đầy đủ điều kiện, đủ căn cứ kết luận bị cáo Quàng Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Vi phạm khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999. Như quyết định truy tố và quan điểm luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La tại phiên tòa là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tại khoản 1, khoản 5 Điều 194 BLHS năm 1999 quy định :

“1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm’’.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Quàng Văn T, tàng trữ trái phép chất ma tuý với số lượng không lớn, mục đích tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, làm lây lan phát sinh các tệ nạn ma tuý và những tệ nạn xã hội khác. Là hành vi nguy hiểm cho xã hội gây mất trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Cần vận dụng khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999 có mức án phạt tù từ hai năm đến bảy năm đối với bị cáo Quàng Văn T.

Mặc dù Bộ luật hình sự năm 2015 chưa có hiệu lực pháp luật, tuy nhiên theo hướng dẫn tại Nghị quyết số: 41/2015/QH14, ngày 20-6-2017, Công văn 276/TANDTC-PC, ngày 13-9-2016 của Tòa án nhân dân Tối cao về việc hướng dẫn một số quy định có lợi cho người phạm tội và tại quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015. HĐXX xét thấy hành vi tàng trữ trái phép 0,46 gam Heroin của bị cáo Quàng Văn T thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 có mức án phạt tù từ một năm đến năm năm. Nên cần xem xét xét xử theo hướng có lợi cho bị cáo, tạo cơ hội cho bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

Tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 quy định :

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Quàng Văn T phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại điểm p khoản 1 điều 46 BLHS năm 1999.

Song nhân thân bị cáo là người nghiện ma túy, biết rõ tác hại của ma tuý là Nhà nước cấm nhưng do coi thường pháp luật nên cố tình phạm tội nghiêm trọng. Nay xét thấy cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người làm ăn lương thiện có ích cho xã hội. Cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính chất nghiêm minh của pháp luật, giáo dục và phòng ngừa chung. Nhất là công tác phòng chống tội phạm và tội phạm ma tuý trong giai đoạn hiện nay.

Bị cáo Quàng Văn T đang bị tạm giam, nay Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo trong hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án. Vận dụng khoản 1, khoản 3 Điều 228 BLTTHS.

Ngoài hình phạt chính là phạt tù bị cáo Quàng Văn T còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 194 BLHS năm 1999. Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng, không có đủ điều kiện và khả năng thi hành hình phạt bổ sung ( BL số: 62 HS). Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về nguồn gốc số ma túy Quàng Văn T khai là cùng một người thanh niên tên Hưng, nhà ở xã CX, thành phố S, tỉnh Sơn La lên mua của một người đàn ông dân tộc Thái, nhà ở bản T, xã TM, huyện TC, tỉnh Sơn La vào ngày 31-7-2017 nhưng T không biết tên tuổi cụ thể của người đàn ông đó. Do vậy cơ quan điều tra Công an huyện TC, tỉnh Sơn La không có căn cứ để xử lý.

Đối với người thanh niên tên H, ở CX, thành phố S, tỉnh Sơn La, T khai là người cùng đi mua ma túy. Do T không biết địa chỉ cụ thể của H ở đâu nên Cơ quan điêu tra Công an huyện TC, tỉnh Sơn La, không có căn cứ để xử lý.

Đối với Một xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe EXCITER, mang BKS: 26B1 – 198.90 thu giữ của Quàng Văn T. Quá trình điều tra xác định chiếc xe máy trên là của Quàng Văn U ( anh rể của T), trú tại: Bản N, xã CĐ, thành phố S, tỉnh Sơn La. Việc T mượn xe anh U đi mua ma túy anh U không biết, anh U đã có đơn xin lại xe. Do vậy Cơ quan điều tra Công an huyện TC, tỉnh Sơn La đã trả lại chiếc xe trên cho chủ sở hữu hợp pháp là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về vật chứng vụ án: Đối với 0,41 gam Heroin còn lại sau khi rút gửi giám định là hàng quốc cấm, Nhà nước cấm lưu hành cần tuyên tịch thu tiêu hủy. Vận dụng Điều 41 BLHS năm 1999 và Điều 76 BLTTHS.

Về án phí: Bị cáo Quàng Văn T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định chung của Nhà nước. Vận dụng Điều 99 BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14; Ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Quàng Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999; Nghị quyết số: 41/2017/QH14, ngày 20-6-2017; khoản 3 Điều 7; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáo Quàng Văn T 14 ( mười bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31-7-2017 ( là ngày bắt giam giữ đối với bị cáo).

Áp dụng Điều 41 BLHS năm 1999 và Điều 76 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy: Chất bột Heroin có trọng lượng 0,41 gam ký hiệu T2, đã được niêm phong trong một phong bì thư;

Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14; Ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Quàng Văn T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ ( Hai trăm nghìn đồng).

Áp dụng Điều 231, Điều 234 BLTTHS: Bị cáo Quàng Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.


73
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về