Bản án 01/2017/HSST ngày 07/11/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ - TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 01/2017/HSST NGÀY 07/11/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 7 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La; Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số; 01/2017/TLST- ST ngày 05 tháng 10 năm 2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số; 01/2017/QĐXXST- HS ngày 26 tháng 10 năm 2017, đối với bị cáo.

Thái Ngọc H; tên gọi khác, không, sinh năm 1967. Trú tại; Tiểu khu S Đ 2, xã V H, huyện V H, tỉnh Sơn La. Giới tính nam, tôn giáo không, quốc tịch Việt Nam. Dân tộc: Kinh; trình độ văn hoá: 9/10; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông; Thái Kim S  87 tuổi, con bà; Đặng Thị Y ( Đã chết ); bị cáo có vợ; Hà Thị H 49 tuổi ( Đã ly hôn ), bị cáo có 02 con sinh đôi, con lớn nhất 24 tuối, con nhỏ 24 tuổi. Tiền án; Tại bản án hình sự phúc thẩm số; 543/HSPT ngày 23-4- 2004 của Tòa phúc thẩm tại Hà Nội Tòa án nhân dân tối cao: Xử phạt bị cáo Thái Ngọc H 20 năm tù về tội; Tội mua bán trái phép chất ma túy, được giảm án tha tù trở về địa phương ngày 19/7/2016 (Chưa được xóa án tích), tiền sự; không có. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam trong vụ án này kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2017 cho đến nay bị cáo có mặt tại phiên toà.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Thái Hồng T.

Trú tại: Bản BN 2, xã V H, huyện V H, tỉnh Sơn La. ( Vắng mặt tại phiên tòa).

2. Anh Hà Văn H.

Trú tại: Bản NA, xã X N, huyện VH, tỉnh Sơn La. ( Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bản thân Thái Ngọc H là đối tượng nghiện chất ma túy, vào khoảng 14 giờ 0 phút ngày 01/7/2017,   H mượn xe máy BKS: 26G1-025.14 của em trai là Thái Hồng Th đi từ nhà xuống bản L L, xã Lóng Luông, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Mục đích tìm mua ma túy để sử dụng, tại bản Lóng Luông H gặp một người dân tộc Mông, H không quen biết mua 01 gói Hêroin với giá là 100.000 đồng. Sau khi mua được Hêroin, H cất gói Hêroin vào túi quần bên trái đang mặc rồi điều khiển xe máy đi về. Đến 15 giờ cùng ngày khi điều khiển xe máy đến bản BN 2, huyện V H, tỉnh Sơn La thì bị tổ công tác Công an huyện Vân Hồ kiểm tra phát hiện và bắt quả tang đang có hành vi vận chuyển, cất giấu trái phép chất ma túy thu giữ vật chứng vụ án gồm có.

01 ( một ) gói nilon màu trắng bên trong có đựng một ít bột màu trắng nghi là Hêroin, H khai là Hêroin, cân tịnh được 0,93 gam rút 0,15 gam gửi giám định chất ma túy còn lại 0,78 gam ( Đã được niêm phong ).

01 xe máy BKS: 26G1- 025.14, 01điện thoại di động nhãn hiệu VIETTEL.

Tại bản kết luận giám đinh số: 705/KLMT ngày 05/7/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám đinh ký hiệu “H” là chất ma túy; loại chất Hêrôin. Trọng lượng của mẫu gửi giám định H là 0,15 gam, tổng trọng lượng chất ma túy thu giữ được là 0,93 gam, loại chất Hêrôin”.

Tại bản Cáo trạng số 72/CT-VKS ngày 02/10/2017 của Viện kiểm sát nhân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Thái Ngọc H về tội; Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Thái Ngọc H phạm tôi: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999. Khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 của Quốc Hội.

Đề nghị xử phạt bị cáo Thái Ngọc H từ 24 ( Hai mươi tư ) tháng tù đến 30 ( Ba mươi ) tháng tù.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Thái Ngọc H được quy định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 41 Bộ luật Hình sự năm 1999, điểm a,b,đ khoản 2, 3 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đề nghị tuyên tịch thu để tiêu huỷ: 01 phong bì đã được niêm phong bên trong đựng 0,78 gam Hêroin và vỏ gói niêm phong ban đầu.

Đề nghị tuyên tạm giữ của bị cáo Thái Ngọc H 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIETTEL để đảm bảo thi hành án.

Đề nghị chấp nhận cơ quan điều tra đã trả lại người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Hà Văn H 01 xe máy biển kiểm soát 26G1- 025.14 là chủ sở hữu hợp pháp.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nhà nước.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo Thái Ngọc H về tội: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 và quan điểm luận tội tại phiên tòa đối với bị cáo.

Ý kiến của bị cáo Thái Ngọc H nhất trí như Quyết đinh truy tố và quan điểm luận tội của Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt thấp nhất trong khung hình phạt đề nghị của Viện Kiểm sát đối với bị cáo và không áp dụng hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Ngày 01/7/2017, Thái Ngọc H trú tại tiểu khu SĐ 2, xã V H, huyện V H, tỉnh Sơn La. Bị phát hiện và bắt quả tang tại bản B N 2, xã Vân Hồ, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Đang  vận chuyển, cất giấu trái phép 0,93 gam Hêroin mục đích mua lại 0,93 gam Hêroin, vận chuyển, cất giấu tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với những lời khai tại cơ quan điều tra, kết luận giám định ma túy, biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở đó có đầy đủ điều kiện đủ căn cứ kết luận bị cáo Thái Ngọc H phạm tội: Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý, vi phạm khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 như Quyết định truy tố và Quan điểm luận tội tại phiên toà của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La là có căn cứ đúng pháp luật.

Tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định: “ Người  nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt trái phép chất ma túy thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.

Tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định“ Người   nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm”.

a,............................

c, Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetaminne, MDMA có  khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05 gam.

Như vậy mức hình phạt đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 nhẹ hơn khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự 1999.

Xét hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo Thái Ngọc H với số lượng cất giấu, tàng trữ số lượng không lớn. Mục đích mua lại Hêroin, vận chuyển, cất giấu để tàng trữ sử dụng dần cho bản thân. Hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý cuả Nhà nước về các chất ma túy, làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội nhất là tệ nạn ma tuý. Là hành vi nguy hiểm cho xã hội gây mất trật tự an toàn xã hội ở địa phương, bị cáo tàng trữ 0,93gam Hêroin cần vận dụng khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Căn cứ vào khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 của Quốc Hội, xét xử hướng có lợi cho bị cáo.

Xét nhân thân bị cáo đã có tiền án về tội mua bán trái phép chất ma túy chưa đươc xóa án tích nay là tái phạm được quy định tại khoản 1 Điều 49 Bộ luật hình sự năm 1999, cần áp dụng điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999 là tình tiết tăng nặng đối với bị cáo. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46  Bộ luật Hình sự năm 1999. Xong nhân thân bị cáo là người đã được cải tạo giáo dục nhiều năm về tội ma túy là người am hiểu pháp luật, nhân thức rõ tác hại của ma túy là nhà nước cấm do nghiện ma túy coi thường pháp luật, cố tình phạm tội. Xét quan điểm luận tội của Viện kiểm sát và ý kiến đề nghị của bị cáo xem xét giảm nhẹ là có căn cứ đúng pháp luật. Bị cáo Thái Ngọc Hoàn phạm tội nghiêm trọng nay xét thấy cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người làm ăn lương thiện, có ích cho xã hội. Cần lên một mức án tương xứng đối với hành vị phạm tội của bị cáo mớí đảm bảo tính chất nghiêm minh của pháp luật, giáo dục phòng ngừa chung nhất là công tác phòng chống tội phạm nói chung và tội phạm về ma túy trong giai đoạn hiện nay.

Ngoài hình phạt chính là phạt tù bị cáo Thái Ngọc H còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản có giá trị, không có thu nhập, không đủ điều kiện và khả năng thi hành, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[2]. Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, Kiểm sát viên trong qua trình điều tra, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa và trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và Kiểm sát viên tham gia tố tụng tuân theo và chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo Thái Ngọc H đang bị tạm giam, nay Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo trong hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, vận dụng khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với nguồn gốc 0,93 gam Hêrôin bị thu giữ, theo lời khai của Thái Ngọc H là mua của một  người dân tộc Mông, Hoàn không biết tên tuổi và địa chỉ. Cơ quan điều tra đã điều tra xác minh ngoài lời khai duy nhất của bị cáo ra không có chứng cứ nào khác cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý người bán ma túy cho bị cáo Thái Ngọc H.

[3]. Về vật chứng của vụ án: Số ma túy của bị cáo là hàng quốc cấm, Nhà nước cấm lưu hành,vỏ gói niêm phong ban đầu không có giá trị sử dụng, cần tuyên tịch thu để tiêu hủy, vận dụng điểm a, đ khoản 2, Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đối với chiếc điện thoại cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo nay xét thấy không liên quan đến vụ án cần tuyên tạm giữ để đẩm bảo thi hành án. Đối với chiếc xe máy bị cáo Thái Ngọc H dùng phương tiện đi lại, qua điều tra xác định chiếc xe máy là tài sản của anh Hà Văn H là chủ sở hữu hợp pháp. Tháng 11/2016 anh H có vay của anh Thái Hồng Th ( em trai H ) 4.000.000đ qua hình thức thế chấp xe máy. Tháng 3/2017 anh Th đã cho H mượn chiếc xe máy để đi lại và cho đến nay anh đã được anh Hà Văn H trả lại số tiền đã vay. Việc H sử dụng xe máy của anh H đi mua ma tuý để sử dụng anh Th và anh H không biết việc phạm tội của bị cáo và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Cơ quan điều tra đã trả lại chíêc xe máy cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Hà Văn H. Nay xét thấy là có căn cứ đúng pháp luật cần được chấp nhận. Vận dụng khoản 2 Điều 41 Bộ luật Hình sự năm 1999, điểm b khoản 2, 3 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[4]. Về án phí:  Bị cáo Thái Ngọc H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định chung của Nhà nước vận dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14,  ngày  30/12/2016  của  Ủy  ban Thường vụ Quốc Hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[5]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Thái Ngọc H, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 49, điểm g khoản 1 Điều 48, khoản 2 Điều 41 Bộ luật Hình sự năm 1999. Khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 của Quốc Hội. Điểm a, b, đ khoản 2, 3 Điều 76, Điều  99  Bộ  luật  Tố tụng  hình sự. Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2. Tuyên bố bị cáo Thái Ngọc H phạm tội; Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Thái Ngọc H  27 ( Hai mươi bảy ) tháng tù. “ Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 01/7/2017”.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Thái Ngọc H được quy đinh tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999.

3. Về vật chứng vụ án:

Chấp nhận cơ quan điều tra đã trả lại người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Hà Văn H 01 xe máy biển kiểm soát 26G1- 025.14 là chủ sở hữu hợp pháp.

Tuyên tạm giữ của bị cáo Thái Ngọc H 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIETTEL để đảm bảo thi hành án.

Tuyên tịch thu để tiêu hủy: 01 phong bì đã được niêm phong bên ngoài ghi vật chứng ký hiệu H1, trọng lượng 0,78 gam Hêroin và vỏ gói niêm phong ban đầu.

4. Về án phí:

Bị cáo Thái Ngọc H phải nộp 200.000đ ( Hai trăm nghìn đồng chẵn ) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Báo cho bị cáo Thái Ngọc H biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Báo cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Thái Hồng Th, anh Hà Văn H được biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án theo thủ tục hợp lệ về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình đã được tuyên./.


126
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về