Từ khoá: Số Hiệu, Tiêu đề hoặc Nội dung ngắn gọn của Văn Bản...

Thành Viên

Quên mật khẩu?   Đăng ký mới
Đăng nhập bằng Google

Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1987

Số hiệu: 4-HĐNN8 Loại văn bản: Luật
Nơi ban hành: Quốc hội Người ký: Lê Quang Đạo
Ngày ban hành: 29/12/1987 Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày công báo: Đã biết Số công báo: Đã biết
Tình trạng: Đã biết

Mùa xuân Đinh Dậu 2017 này, Việt Nam ghi nhận một dấu mốc ý nghĩa: Tròn 30 năm thực hiện Luật Đầu tư nước ngoài (ĐTNN) năm 1987 , một luật chính thức đưa Việt Nam mở cửa đón dòng vốn ngoại quan trọng cũng như từng bước hội nhập kinh tế sâu rộng với khu vực và thế giới.

Hồ Chủ tịch và toàn thể Hội đồng Chính phủ, Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng bá vai ông Phan Anh và đồng chí Đặng Việt Châu (người thứ 4 từ phải sang) Ảnh chụp cuối năm 1950

Ít ai biết rằng, cách thời điểm đó 10 năm, nghĩa là cách nay tròn bốn thập kỷ, đã có một văn bản đặt nền móng cho sự ra đời của luật nói trên, đó là Điều lệ ĐTNN năm 1977 do Phó Thủ tướng Đặng Việt Châu chỉ đạo triển khai xây dựng.

Dấu mốc lịch sử về chính sách đầu tư nước ngoài

Ngày 18/4/1977, Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng đã ký một văn bản quan trọng - Nghị định 115-CP “Ban hành Điều lệ về đầu tư của nước ngoài ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, gồm 7 Chương, 27 Điều quy định những nội dung cụ thể hướng dẫn thực hiện ĐTNN tại Việt Nam. Người có ý tưởng đầu tiên về việc đưa ra một văn bản pháp luật quy định các hoạt động đầu tư của nhà ĐTNN trên lãnh thổ nước Việt Nam thống nhất, đồng thời trực tiếp tổ chức triển khai xây dựng văn bản này là Phó Thủ tướng Đặng Việt Châu.

Theo GS. Lưu Văn Đạt, một cộng sự của Phó Thủ tướng Đặng Việt Châu, ngay sau ngày đất nước thống nhất, một số tập đoàn lớn của CHLB Đức, Italia, Canada… đã sớm có ý định đầu tư vào Việt Nam, trước hết là hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí tại một số nơi thuộc thềm lục địa phía Nam. Trước hoàn cảnh đất nước gặp nhiều khó khăn của thời kỳ hậu chiến, rất cần nguồn lực mới hỗ trợ đầu tư phát triển, Chính phủ đã sớm nhận ra tầm quan trọng của ĐTNN và mong muốn Việt Nam có chính sách đón được dòng vốn này. Điều cấp thiết đặt ra là phải có một hành lang pháp lý để ĐTNN có cơ sở triển khai trong thực tiễn. Tuy nhiên, khi vấn đề này được đưa ra Trung ương, đã có không ít ý kiến và tranh luận gay gắt, thậm chí ngược chiều nhau. Có ý kiến cho rằng, chúng ta mới thống nhất đất nước, đang tiến hành công cuộc cải tạo tư sản ở miền Nam, việc sớm mở cửa cho các nhà ĐTNN mà cụ thể là doanh nghiệp của các nước tư bản đến làm ăn rất dễ mâu thuẫn với đường lối phát triển kinh tế tập trung của Nhà nước, thậm chí là có khuynh hướng đi chệch định hướng XHCN.

Nhận thức được những khó khăn, thách thức lớn đó nên khi được Thủ tướng Phạm Văn Đồng ủy quyền, ngay từ cuối năm 1976, Phó Thủ tướng Đặng Việt Châu đã cho gọi ông Lưu Văn Đạt, lúc đó đang là Chánh văn phòng Bộ Ngoại thương lên Văn phòng Chính phủ, truyền đạt tư tưởng nhất thiết phải biên soạn, ban hành một văn bản pháp luật tạo cơ sở pháp lý cho người nước ngoài đầu tư vào Việt Nam và giao nhiệm vụ cho ông làm Tổ trưởng Tổ soạn thảo văn bản.

Để thay đổi “những cái đầu bảo thủ”, Phó Thủ tướng Đặng Việt Châu đã viện dẫn tư tưởng mở cửa và phát triển kinh tế của Hồ Chủ tịch trong lần Người trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài ngay sau ngày giành được độc lập, tháng 9/1945: “Chúng tôi hoan nghênh những người Pháp muốn đem tư bản vào xứ ta khai thác những nguồn nguyên liệu chưa có ai khai thác… Chúng ta sẽ mời các nhà chuyên môn Pháp cũng như Mỹ, Nga, Tàu đến giúp việc cho chúng ta trong cuộc kiến thiết quốc gia”… “Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình… sẵn sàng mở rộng tất cả các cảng, sân bay, đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế…” (trích Thư Hồ Chủ tịch gửi Tổng thư ký Liên hợp quốc, tháng 12/1946). Chính lập luận chặt chẽ, khúc chiết đó cũng như phân tích tính cần thiết của dòng vốn ngoại tham gia phát triển kinh tế đất nước nên chủ trương xây dựng Điều lệ ĐTNN năm 1977 đã được Trung ương thông qua.

Để Tổ soạn thảo hoạt động đạt hiệu quả, Phó Thủ tướng Đặng Việt Châu đã huy động những chuyên gia kinh tế có chuyên môn giỏi tham gia như GS. Nguyễn Ngọc Minh, Thứ trưởng Bộ Tài chính Trịnh Văn Bính… và trực tiếp chỉ đạo lấy ý kiến tham gia của các cơ quan hữu quan về thủ tục đầu tư, về vốn, thuế, lợi tức, lương bổng, quy chế với lao động người Việt Nam làm việc tại các công ty có vốn ĐTNN... Có thể coi Điều lệ ĐTNN năm 1977 là một văn bản pháp luật tương đối hoàn chỉnh đầu tiên về lĩnh vực này tại Việt Nam, một công trình pháp luật có tầm vóc và ý nghĩa lịch sử, trong đó Phó Thủ tướng Đặng Việt Châu là người chỉ đạo triển khai nhiều nội dung, từ cụ thể đến cấp vĩ mô.

Ngay sau khi Nghị định 115-CP được ban hành, tờ Tạp chí Citibank - ngân hàng lớn của Hoa Kỳ trong một bài bình luận số tháng 5/1977, đã viết: “Người Việt Nam đã bày tỏ với mức độ khá thực dụng khi đưa ra bản Điều lệ ĐTNN, có thể xem là rất không thông thường mà một nước XHCN đã công bố”. Điều này chứng tỏ độ “mở cửa” và tính “hội nhập” tích cực của Điều lệ ĐTNN năm 1977 trong hoàn cảnh lúc bấy giờ.

Mặc dù phải đến 10 năm sau, khi Luật ĐTNN năm 1987 ra đời, hành lang pháp lý về ĐTNN ở Việt Nam mới hoàn chỉnh, cùng với quá trình đổi mới, mở cửa của đất nước đã đem lại hiệu quả ngày càng lớn cho hoạt động ĐTNN ở Việt Nam, nhưng có thể coi Điều lệ ĐTNN năm 1977 là nền tảng quan trọng. Và vị “cha đẻ” – Phó Thủ tướng Đặng Việt Châu, qua bản Điều lệ từ 40 năm trước đã không chỉ thể hiện tư duy kinh tế vượt thời đại, mà còn phát triển được tư tưởng mở cửa của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hoàn cảnh cụ thể của đất nước, được nhiều người đánh giá cao, cũng như thể hiện chính sách hội nhập kinh tế của nước Việt Nam thống nhất từ khi công cuộc đổi mới đất nước còn chưa ra đời.

Nhà quản lý kinh tế ưu tú của cách mạng Việt Nam

Bà Đặng Minh Châu, người con gái duy nhất của Phó Thủ tướng Đặng Việt Châu kể: “Tháng 7/1950, khi đang là Phó Chủ tịch Liên khu IV, cha tôi được lệnh ra Việt Bắc. Ông được Bác Hồ mời đến làm việc, bất ngờ Người hỏi: “Chú đã làm kinh tế bao giờ chưa?”. Cha tôi thưa: “Thưa Bác, dạ chưa!”. Không tỏ vẻ bất ngờ, Người tiếp: “Trung ương Đảng và Bác định giao cho chú một nhiệm vụ quan trọng, làm Thứ trưởng Bộ Kinh tế, chú có đảm nhiệm được không?”. Ông bất ngờ nhưng hứa với Bác: “Nhiệm vụ nào Bác và Đảng giao cháu cũng dốc sức hoàn thành”. Thì ra, từ tháng cuối năm 1944, khi tham gia Đoàn cán bộ cao cấp Việt Minh sang Trung Quốc đón Người rồi cùng Người về Tân Trào, Bác đã quan sát và phát hiện ra khả năng tổ chức quản lý kinh tế của cha tôi. Năm 1946, Người đã giao cho ông vào Thanh Hóa tìm hiểu việc xây dựng chiến khu sau khi toàn quốc kháng chiến”.

Từ đây cho đến cuối đời công tác, cuộc đời hoạt động của đồng chí Đặng Việt Châu gắn với các cương vị lãnh đạo nhiều ngành kinh tế then chốt của đất nước như Thứ trưởng Bộ Kinh tế, Thứ trưởng Bộ Ngoại thương, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Phó Chủ nhiệm thường trực Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước… Ở ngành nào, lĩnh vực nào, ông cũng có những dấu ấn lớn, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế đối ngoại của Việt Nam.

Khi nói về những đóng góp trên “mặt trận” kinh tế của đồng chí Đặng Việt Châu, nhà sử học Dương Trung Quốc nhận định: “Người ta có thể đặt câu hỏi: Võ Nguyên Giáp đã học ở trường võ bị nào mà trở thành vị tướng lừng danh thế giới? Đặng Việt Châu chưa qua một trường lớp kinh tế, vì lẽ nào đã trở thành một nhà lãnh đạo kinh tế tài ba? Sở dĩ họ thành công bởi là “lớp người tiên phong, khai mở” mọi cánh cửa thử thách của lịch sử để phấn đấu thắng lợi cái mục tiêu có giá trị muôn thuở đã nung nấu: “Xây dựng nước nhà thành một nước dân chủ, văn minh, không thua kém người”, dưới ngọn cờ của Đảng Cộng sản và Lãnh tụ Hồ Chí Minh”.

Đã tròn 40 mùa xuân kể từ khi văn bản đầu tiên về ĐTNN của nước Việt Nam thống nhất ra đời, bài viết như để tưởng nhớ về vị “cha đẻ” của Điều lệ ĐTNN – một trong những kiến trúc sư xuất sắc của nền kinh tế Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.

Đồng chí Đặng Việt Châu (1914 - 1990) quê xã Nam Hồng, Nam Trực, Nam Định, là lớp tiền bối cách mạng, sớm đi theo tiếng gọi của Đảng từ những năm 1930. Ông là nhà cách mạng kiên cường, từng là Bí thư Chi bộ Nhà tù Hỏa Lò, Bí thư Tỉnh ủy Nam Định thời kỳ trước năm 1945. Tuy không tốt nghiệp một trường đào tạo về kinh tế nào, nhưng ông được đánh giá là nhà quản lý kinh tế ưu tú có nhiều tư tưởng đổi mới, là một trong những người đặt nền tảng cho Luật ĐTNN ở Việt Nam.

Hải Phan

Theo Báo Đấu thầu

QUỐC HỘI
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 4-HĐNN8

Hà Nội, ngày 29 tháng 12 năm 1987

 

LUẬT

ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

Để mở rộng kinh tế với nước ngoài, phát triển kinh tế quốc dân, đẩy mạnh xuất khẩu trên cơ sở khai thác có hiệu quả tài nguyên, lao động và các tiềm năng khác của đất nước;
Căn cứ vào Điều 16, Điều 21 và Điều 83 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Luật này quy định việc đầu tư của các tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Chương 1:

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1

Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoan nghênh và khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vốn và kỹ thuật vào Việt Nam trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của Việt Nam, tuân thủ pháp luật Việt Nam, bình đẳng và các bên cùng có lợi.

Nhà nước Việt Nam bảo đảm quyền sở hữu đối với vốn đầu tư và các quyền lợi khác của các tổ chức, cá nhân nước ngoài, tạo những điều kiện thuận lợi và định các thủ tục dễ dàng cho các tổ chức, cá nhân đó đầu tư vào Việt Nam.

Điều 2

Trong Luật này các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1- "Bên nước ngoài" là một bên gồm một hoặc nhiều tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân hoặc cá nhân nước ngoài.

2- "Bên Việt Nam" là một bên gồm một hoặc nhiều tổ chức kinh tế Việt Nam có tư cách pháp nhân; các tư nhân Việt Nam có thể chung vốn với tổ chức kinh tế Việt Nam thành Bên Việt Nam để hợp tác kinh doanh với Bên nước ngoài.

3- "Đầu tư ngước ngoài" là việc các tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc xí nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của Luật này.

4- "Hai bên" là Bên Việt Nam và Bên nước ngoài.

5- "Hợp đồng hợp tác kinh doanh" là văn bản ký giữa Bên nước ngoài và Bên Việt Nam về hợp tác kinh doanh.

6- "Hợp đồng liên doanh" là văn bản ký giữa Bên nước ngoài và Bên Việt Nam về việc thành lập xí nghiệp liên doanh.

7- "Phần góp vốn" là phần vốn của Bên nước ngoài hoặc của Bên Việt Nam góp vào xí nghiệp liên doanh hợp thành vốn của xí nghiệp, không kể những khoản xí nghiệp đi vay hoặc những khoản tín dụng khác cấp cho xí nghiệp.

8- "Tái đầu tư" là việc dùng lợi nhuận được chia để tăng phần góp vốn của mình trong xí nghiệp liên doanh hoặc để đầu tư mới tại Việt Nam dưới các hình thức ghi ở Điều 4 của Luật này.

9- "Vốn Pháp định" là vốn ban đầu của xí nghiệp liên doanh được ghi trong điều lệ của xí nghiệp.

10- "Xí nghiệp liên doanh" là xí nghiệp do Bên nước ngoài và Bên Việt Nam hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký giữa Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Chính phủ nước ngoài.

11- "Xí nghiệp 100% vốn nước ngoài" là xí nghiệp do các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư 100% vốn và được Chính phủ Việt Nam cho phép thành lập tại Việt Nam.

12- "Xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài" gồm xí nghiệp liên doanh và xí nghiệp 100% vốn nước ngoài.

Điều 3

Các tổ chức, cá nhân nước ngoài được đầu tư vào Việt Nam trong các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân.

Nhà nước Việt Nam khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào những lĩnh vực sau đây:

1- Thực hiện các chương trình kinh tế lớn, sản xuất hàng xuất khẩu và hàng thay thế hàng nhập khẩu;

2- Sử dụng kỹ thuật cao, công nhân lành nghề; đầu tư theo chiều sâu để khai thác, tận dụng các khả năng và nâng cao công suất của các cơ sở kinh tế hiện có;

3- Sử dụng nhiều lao động, nguyên liệu và tài nguyên thiên nhiên sẵn có ở Việt Nam;

4- Xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng;

5- Dịch vụ thu tiền nước ngoài như du lịch, sửa chữa tầu, dịch vụ sân bay, cảng khẩu và các dịch vụ khác.

Danh mục chi tiết các lĩnh vực được khuyến khích đầu tư do cơ quan Nhà nước quản lý đầu tư nước ngoài công bố.

Chương 2:

HÌNH THỨC ĐẦU TƯ

Điều 4

Các tổ chức, cá nhân nước ngoài được đầu tư vào Việt Nam dưới các hình thức sau đây:

1- Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh;

2- Xí nghiệp hoặc Công ty liên doanh, gọi chung là xí nghiệp liên doanh;

3- Xí nghiệp 100% vốn nước ngoài.

Điều 5

Bên nước ngoài và Bên Việt Nam được hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh như hợp tác sản xuất chia sản phẩm và các hình thức hợp tác kinh doanh khác.

Đối tượng, nội dung kinh doanh, quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi bên và quan hệ giữa hai bên do hai bên thoả thuận và ghi trong hợp đồng hợp tác kinh doanh.

Điều 6

Hai bên được hợp tác với nhau để thành lập xí nghiệp liên doanh.

Xí nghiệp liên doanh có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam.

Điều 7

Bên nước ngoài tham gia xí nghiệp liên doanh góp vốn pháp định bằng:

1- Tiền nước ngoài;

2- Nhà xưởng, công trình xây dựng khác, thiết bị, máy móc, dụng cụ, bộ phận rời;

3- Bằng sáng chế, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật.

Bên Việt Nam tham gia xí nghiệp liên doanh góp vốn pháp định bằng:

1- Tiền Việt Nam;

2- Các nguồn tài nguyên;

3- Vật liệu xây dựng, trang bị và tiện nghi;

4- Quyền sử dụng đất đai, mặt nước, mặt biển;

5- Nhà xưởng, công trình xây dựng khác, thiết bị, máy móc, dụng cụ, bộ phận rời;

6- Dịch vụ thi công và đưa xí nghiệp vào hoạt động; bằng sáng chế, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật.

Hai bên còn có thể thoả thuận góp vốn bằng các hình thức khác.

Điều 8

Phần góp vốn của Bên nước ngoài vào vốn pháp định của xí nghiệp liên doanh không bị hạn chế về mức cao nhất, theo sự thoả thuận của hai bên nhưng không dưới 30% tổng số vốn.

Giá trị phần góp vốn của mỗi bên được xác định trên cơ sở giá thị trường quốc tế và được ghi vào văn bản thành lập bằng tiền Việt Nam hoặc tiền nước ngoài do hai bên thoả thuận.

Điều 9

Tài sản của xí nghiệp liên doanh được bảo hiểm tại Công ty bảo hiểm Việt Nam hoặc tại các công ty bảo hiểm khác do hai bên thoả thuận.

Điều 10

Hai bên chia lợi nhuận và chịu những rủi ro của xí nghiệp liên doanh theo tỷ lệ góp vốn của mỗi bên.

Điều 11

Hai bên thoả thuận về tỷ lệ xuất khẩu và tỷ lệ tiêu thụ sản phẩm của xí nghiệp liên doanh tại thị trường Việt Nam, trên nguyên tắc tự bảo đảm nhu cầu về tiền nước ngoài. Thu nhập về tiền nước ngoài bằng xuất khẩu và bằng các nguồn khác phải đáp ứng được các nhu cầu về tiền nước ngoài của xí nghiệp nhằm bảo đảm hoạt động bình thường của xí nghiệp và lợi ích của Bên nước ngoài.

Điều 12

Cơ quan lãnh đạo của xí nghiệp liên doanh là Hội đồng quản trị.

Mỗi bên chỉ định người của mình tham gia Hội đồng quản trị theo tỷ lệ tương ứng với phần góp vốn nhưng ít nhất có hai thành viên trong Hội đồng.

Chủ tịch Hội đồng do hai bên thoả thuận cử ra.

Tổng giám đốc và các Phó Tổng giám đốc do Hội đồng quản trị cử ra để điều hành các hoạt động hàng ngày của xí nghiệp và chịu trách nhiệm trước Hội đồng về hoạt động của xí nghiệp.

Tổng giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc thứ nhất là công dân Việt Nam.

Điều 13

Những vấn đề quan trọng nhất trong tổ chức và hoạt động của xí nghiệp liên doanh như phương hướng hoạt động, kế hoạch kinh doanh, cán bộ chủ chốt của xí nghiệp do Hội đồng quản trị quyết định theo nguyên tắc nhất trí.

Điều 14

Các tổ chức, cá nhân nước ngoài được thành lập tại Việt Nam xí nghiệp 100% vốn nước ngoài, tự mình quản lý xí nghiệp, chịu sự kiểm soát của cơ quan Nhà nước quản lý đầu tư nước ngoài, được hưởng các quyền lợi và phải thực hiện các nghĩa vụ ghi trong giấy phép đầu tư.

Xí nghiệp 100% vốn nước ngoài có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam.

Điều 15

Thời hạn hoạt động của xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không quá 20 năm. Trong trường hợp cần thiết, thời hạn này có thể dài hơn.

Điều 16

Công dân Việt Nam được ưu tiên tuyển dụng vào xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Đối với những công việc đòi hỏi kỹ thuật cao mà phía Việt Nam chưa đáp ứng được thì xí nghiệp được tuyển dụng người nước ngoài.

Quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động Việt Nam làm việc trong xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được bảo đảm bằng hợp đồng lao động.

Lương và các khoản phụ cấp khác của người lao động Việt Nam được trả bằng tiền Việt Nam có gốc tiền nước ngoài.

Điều 17

Xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mở tài khoản bằng tiền Việt Nam và tiền nước ngoài tại Ngân hàng ngoại thương Việt Nam hoặc tại các chi nhánh ngân hàng nước ngoài đặt ở Việt Nam được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chấp thuận.

Điều 18

Xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mở sổ sách kế toán theo những nguyên tắc và tiêu chuẩn quốc tế phổ biến được Bộ tài chính Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thừa nhận và chịu sự kiểm tra của cơ quan tài chính Việt Nam.

Điều 19

Xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập, hoạt động, chuyển nhượng vốn và giải thể theo Điều lệ của xí nghiệp và phù hợp với pháp luật Việt Nam.

Xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có tư cách pháp nhân kể từ khi đăng ký điều lệ của xí nghiệp tại cơ quan Nhà nước quản lý đầu tư nước ngoài.

Chương 3:

BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM ĐẦU TƯ

Điều 20

Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo đảm đối đãi công bằng và thoả đáng đối với các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam.

Điều 21

Trong quá trình đầu tư vào Việt Nam, vốn và tài sản của các tổ chức, cá nhân nước ngoài không bị trưng dụng hoặc tịch thu bằng biện pháp hành chính, xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không bị quốc hữu hoá.

Điều 22

Các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam được chuyển ra nước ngoài:

1- Lợi nhuận thu được trong quá trình kinh doanh;

2- Những khoản tiền trả cho việc cung cấp kỹ thuật hoặc dịch vụ;

3- Tiền gốc và lãi của các khoản cho vay trong quá trình hoạt động;

4- Vốn đầu tư;

5- Các khoản tiền và tài sản khác thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình.

Điều 23

Người nước ngoài làm việc tại Việt Nam trong các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc để thực hiện các hợp đồng hợp tác kinh doanh, sau khi nộp thuế thu nhập do pháp luật Việt Nam quy định, được chuyển ra nước ngoài thu nhập của mình theo quy chế quản lý ngoại hối của Việt Nam.

Điều 24

Việc chuyển đổi giữa đồng Việt Nam và tiền nước ngoài được thực hiện theo tỷ giá hối đoái chính thức do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố.

Điều 25

Các tranh chấp giữa hai bên phát sinh từ hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc hợp đồng liên doanh, cũng như các tranh chấp giữa xí nghiệp liên doanh, xí nghiệp 100% vốn nước ngoài với các tổ chức kinh tế của Việt Nam hoặc giữa các xí nghiệp đó với nhau trước hết phải được giải quyết thông qua thương lượng và hoà giải.

Trong trường hợp các bên tranh chấp vẫn không thoả thuận được với nhau thì vụ tranh chấp được đưa ra trước tổ chức trọng tài kinh tế Việt Nam hoặc một tổ chức trọng tài hoặc cơ quan xét xử khác do các bên thoả thuận.

Chương 4:

QUYỀN LỢI VÀ NGHĨA VỤ CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

Điều 26

Xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và Bên nước ngoài hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng nộp thuế lợi tức từ 15% đến 25% lợi nhuận thu được.

Đối với dầu khí và một số tài nguyên quý hiếm khác thì thuế lợi tức cao hơn, phù hợp với thông lệ quốc tế.

Điều 27

Tuỳ thuộc vào lĩnh vực đầu tư, quy mô vốn đầu tư, khối lượng hàng xuất khẩu, tính chất và thời gian hoạt động, cơ quan Nhà nước quản lý đầu tư nước ngoài có thể miễn thuế lợi tức cho xí nghiệp liên doanh trong một thời gian tối đa là 2 năm, kể từ năm bắt đầu kinh doanh có lãi và giảm 50% thuế lợi tức trong một thời gian tối đa là 2 năm tiếp theo.

Trong quá trình hoạt động, xí nghiệp liên doanh được chuyển lỗ của bất kỳ năm thuế nào sang năm tiếp theo và được bù số lỗ đó bằng lợi nhuận của những năm tiếp theo, nhưng không được quá 5 năm.

Điều 28

Trong trường hợp đặc biệt cần khuyến khích đầu tư, thuế lợi tức có thể được cơ quan Nhà nước quản lý đầu tư nước ngoài giảm tới 10% lợi nhuận thu được và thời hạn miễn, giảm thuế lợi tức có thể được kéo dài hơn thời hạn quy định ở Điều 27 của Luật này.

Điều 29

Xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và Bên nước ngoài hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng sử dụng đất đai, mặt nước, mặt biển của Việt Nam thì phải trả tiền thuê. Trong trường hợp khai thác tài nguyên thì phải trả tiền tài nguyên.

Điều 30

Sau khi nộp thuế lợi tức, xí nghiệp liên doanh trích 5% lợi nhuận còn lại để lập quỹ dự phòng. Quỹ dự phòng được giới hạn ở mức 25% vốn pháp định của xí nghiệp. Tỷ lệ lợi nhuận dành ra để lập các quỹ khác do hai bên thoả thuận và ghi trong Điều lệ của xí nghiệp.

Điều 31

Xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nộp vào Ngân sách của Việt Nam các khoản tiền trích bảo hiểm xã hội đối với công nhân, viên chức của xí nghiệp theo pháp luật Việt Nam.

Điều 32

Trong trường hợp tổ chức, cá nhân nước ngoài dùng lợi nhuận thu được để tái đầu tư thì cơ quan thuế hoàn lại phần thuế lợi tức đã nộp cho số lợi nhuận tái đầu tư.

Điều 33

Khi chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài nộp một khoản thuế từ 5% đến 10% số tiền chuyển ra nước ngoài.

Cơ quan Nhà nước quản lý đầu tư nước ngoài có thể miễn hoặc giảm thuế này cho từng trường hợp đặc biệt cần khuyến khích đầu tư.

Điều 34

Xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có trách nhiệm áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ môi trường trong quá trình hoạt động.

Điều 35

Thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu đối với hàng xuất khẩu, hàng nhập khẩu của xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng như đối với hàng xuất khẩu, hàng nhập khẩu trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh được áp dụng theo Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.

Cơ quan Nhà nước quản lý đầu tư nước ngoài có thể miễn hoặc giảm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cho từng trường hợp đặc biệt cần khuyến khích đầu tư.

Chương 5:

CƠ QUAN NHÀ NƯỚC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

Điều 36

Cơ quan Nhà nước quản lý đầu tư nước ngoài của Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thẩm quyền giải quyết những vấn đề liên quan đến hoạt động đầu tư của các tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam.

Cơ quan Nhà nước quản lý đầu tư nước ngoài có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1- Hướng dẫn Bên nước ngoài và Bên Việt Nam trong quá trình đàm phán, ký kết hợp đồng hợp hợp tác kinh doanh, hợp đồng liên doanh; hướng dẫn các tổ chức, cá nhân nước ngoài thành lập xí nghiệp 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam; làm đầu mối giải quyết những vấn đề do tổ chức, cá nhân đầu tư nước ngoài yêu cầu;

2- Xem xét và chuẩn y hợp đồng hợp tác kinh doanh, hợp đồng liên doanh, cho phép các tổ chức, cá nhân nước ngoài thành lập xí nghiệp 100% vốn nước ngoài, chuẩn y điều lệ của xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài;

3- Quyết định cho các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và Bên nước ngoài tham gia hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp đồng được hưởng những điều kiện ưu đãi;

4- Theo dõi và kiểm tra việc thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh, hợp đồng liên doanh và hoạt động của xí nghiệp 100% vốn nước ngoài;

5- Phân tích hoạt động kinh tế của xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Điều 37

Hai bên hoặc một trong hai bên hoặc tổ chức, cá nhân đầu tư nước ngoài phải gửi cho cơ quan Nhà nước quản lý đầu tư nước ngoài đơn xin chuẩn y hợp đồng hợp tác kinh doanh, hợp đồng liên doanh, đơn xin phép thành lập xí nghiệp 100% vốn nước ngoài và đơn xin hưởng những điều kiện ưu đãi. Đơn phải kèm theo hợp dồng hợp tác kinh doanh, hợp đồng liên doanh, điều lệ của xí nghiệp liên doanh hoặc xí nghiệp 100% vốn nước ngoài, luận chứng kinh tế - kỹ thuật và những tài liệu khác có liên quan, theo yêu cầu của cơ quan Nhà nước quản lý đầu tư nước ngoài.

Điều 38

Cơ quan Nhà nước quản lý đầu tư nước ngoài xem xét đơn và thông báo quyết định cho đương sự trong vòng 3 tháng, kể từ ngày nhận được đơn. Quyết định chấp thuận được thông báo dưới hình thức giấy phép đầu tư.

Chương 6:

ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNG

Điều 39

Căn cứ vào những nguyên tắc quy định trong Luật này, Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành những quy định nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam ở nước ngoài đầu tư về nước, góp phần xây dựng Tổ quốc.

Điều 40

Căn cứ vào những nguyên tắc quy định trong Luật này, Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể ký với Chính phủ nước ngoài những hiệp định về hợp tác và đầu tư phù hợp với quan hệ kinh tế giữa Việt Nam với mỗi nước.

Điều 41

Nay bãi bỏ Điều lệ về đầu tư của nước ngoài ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành theo Nghị định số 115/CP ngày 18 tháng 4 năm 1977 và các quy định khác trái với Luật này.

Điều 42

Hội đồng bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Luật này.

Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 29 tháng 12 năm 1987.

 

 

Lê Quang Đạo

(Đã ký)

 

THE NATIONAL ASSEMBLY
---------

SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM
Independence - Freedom – Happiness
--------------

No. 4-HDNN8

Hanoi, December 29, 1987

 

LAW

ON FOREIGN INVESTMENT IN VIETNAM

In order to expand economic co-operation with foreign countries, develop the national economy and increase exports on the basis of the efficient exploitation of natural resources, labour, and all other potential of the country;
In order to encourage, and create favorable conditions for the investment in Vietnam by foreign organizations and individuals and the expansion of co-operation and investment between foreign countries and Vietnamese economic organizations from all sectors;
In order to encourage foreign organizations and individuals to invest in Vietnam and to encourage Vietnamese enterprises from different economic sectors to expand further their co-operation and investment with foreign countries;
In accordance with articles 24, 25 and 84 of the Constitution of the Socialist Republic of Vietnam;
This Law makes provisions for investment by foreign organizations and individuals in the Socialist Republic of Vietnam
.

Chapter I

GENERAL PROVISIONS

Article 1

The State of the Socialist Republic of Vietnam welcomes and encourages foreign organizations and individuals to invest capital and technology in Vietnam on the basis of respect for the independence and sovereignty of Vietnam, observance of Vietnamese laws, equality and mutual benefit.

The State of Vietnam guarantees the ownership of invested capital and other rights of foreign organizations and individuals, and provides favorable conditions and simple procedures for investment in Vietnam.

Article 2




..................................................

..................................................

..................................................




Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1987

Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


15.300

THƯ VIỆN PHÁP LUẬT có liên kết cung cấp dịch vụ tại các Báo điện tử sau:

TVPL:
DMCA.com Protection Status