|
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC
VIỆT NAM
--------
|
CỘNG HÒA XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 27/VBHN-NHNN
|
Hà Nội, ngày
21 tháng 11 năm 2025
|
THÔNG TƯ
QUY ĐỊNH VỀ PHÂN LOẠI TÀI SẢN CÓ TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI, TỔ CHỨC TÍN DỤNG PHI NGÂN HÀNG, CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NƯỚC NGOÀI
Thông tư số 31/2024/TT-NHNN ngày 30 tháng 6
năm 2024 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về phân loại tài sản
có trong hoạt động của ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng phi ngân hàng,
chi nhánh ngân hàng nước ngoài, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024, được
sửa đổi, bổ sung bởi:
Thông tư số 37/2025/TT-NHNN ngày 31 tháng 10
năm 2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sửa đổi, bổ sung một số điều
của Thông tư số 31/2024/TT-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định
về phân loại tài sản có trong hoạt động của ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng
phi ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng
12 năm 2025.
Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày
16 tháng 6 năm 2010;
Căn cứ Luật Các tổ chức tín dụng ngày 18
tháng 01 năm 2024;
Căn cứ Nghị định số 102/2022/NĐ-CP ngày 12
tháng 12 năm 2022 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu
tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
Theo đề nghị của Chánh Thanh tra, giám sát
ngân hàng;
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban
hành Thông tư quy định về phân loại tài sản có trong hoạt động của ngân hàng
thương mại, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài[1].
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
1. Thông tư này quy định về việc phân loại đối với
các tài sản có (sau đây gọi là nợ) trong hoạt động của ngân hàng thương mại, tổ
chức tín dụng phi ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phát sinh từ các hoạt
động sau:
a) Cho vay;
b) Cho thuê tài chính;
c) Chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng
và giấy tờ có giá khác;
d) Bao thanh toán;
đ) Cấp tín dụng dưới hình thức phát hành thẻ tín
dụng;
e) Trả thay theo cam kết ngoại bảng (bao gồm khoản
trả thay nghĩa vụ của khách hàng trong hoạt động bảo lãnh, nghiệp vụ thư tín dụng
(trừ các trường hợp quy định tại điểm n Khoản này) và các khoản trả thay khác
theo cam kết ngoại bảng);
g) Mua và ủy thác mua trái phiếu doanh nghiệp
(bao gồm cả trái phiếu do tổ chức tín dụng khác phát hành) chưa niêm yết trên
thị trường chứng khoán hoặc chưa đăng ký giao dịch trên hệ thống giao dịch
Upcom (sau đây gọi là trái phiếu chưa niêm yết), không bao gồm mua trái phiếu
chưa niêm yết bằng nguồn vốn ủy thác mà bên ủy thác chịu rủi ro;
h) Ủy thác cấp tín dụng;
i) Gửi tiền (trừ tiền gửi không kỳ hạn tại tổ chức
tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; tiền gửi tại ngân hàng chính sách xã
hội theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc các tổ chức tín dụng
nhà nước duy trì số dư tiền gửi tại ngân hàng chính sách xã hội) tại tổ chức
tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định của pháp luật và gửi tiền
(trừ tiền gửi không kỳ hạn) tại tổ chức tín dụng ở nước ngoài;
k) Mua, bán nợ theo quy định của Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam (sau đây gọi là Ngân hàng Nhà nước), trừ hoạt động mua nợ xấu của
tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài với Công ty quản lý tài sản của
các tổ chức tín dụng Việt Nam;
l) Mua bán lại trái phiếu Chính phủ trên thị trường
chứng khoán theo quy định của pháp luật về phát hành, đăng ký, lưu ký, niêm yết
và giao dịch công cụ nợ của Chính phủ trên thị trường chứng khoán;
m) Mua chứng chỉ tiền gửi do tổ chức tín dụng,
chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác phát hành;
n) Nghiệp vụ phát hành thư tín dụng trả chậm có
điều khoản thỏa thuận bên thụ hưởng được thanh toán trả ngay hoặc trả trước ngày
đến hạn thanh toán thư tín dụng và nghiệp vụ hoàn trả thư tín dụng theo hình thức
thỏa thuận với khách hàng thanh toán bằng nguồn tiền của ngân hàng hoàn trả kể
từ ngày ngân hàng hoàn trả thanh toán cho bên thụ hưởng; nghiệp vụ thương lượng
thanh toán thư tín dụng;
o) Mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ xuất trình
theo thư tín dụng, trừ trường hợp ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước
ngoài mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ theo thư tín dụng do chính ngân hàng
thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đó phát hành.
2. Các khoản bảo lãnh, nghiệp vụ thư tín dụng
(trừ các trường hợp quy định tại điểm n khoản 1 Điều này), chấp nhận thanh
toán, cam kết cho vay không hủy ngang và các cam kết khác phát sinh rủi ro tín
dụng (sau đây gọi là cam kết ngoại bảng) phải được phân loại theo quy định tại
Thông tư này để quản lý, giám sát chất lượng hoạt động cấp tín dụng của ngân
hàng thương mại, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước
ngoài.
3. Đối với nợ đã sử dụng dự phòng rủi ro theo
quy định tại Nghị định của Chính phủ quy định về mức trích, phương pháp trích lập
dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ
chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và trường hợp tổ chức tín dụng
phân bổ lãi phải thu phải thoái (sau đây gọi là Nghị định về trích lập dự phòng
rủi ro), ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, chi nhánh ngân
hàng nước ngoài thực hiện quản lý, theo dõi theo quy định tại Nghị định về
trích lập dự phòng rủi ro, không phân loại nợ theo quy định tại Thông tư này.
4. Các khoản nợ mà Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ
có quy định, quyết định về phân loại tài sản có thì ngân hàng thương mại, tổ chức
tín dụng phi ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện theo quy định,
quyết định đó của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
1. Thông tư này áp dụng đối với ngân hàng thương
mại, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (sau đây gọi
là ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng).
2. Chi nhánh ngân hàng nước ngoài được áp dụng
chính sách dự phòng rủi ro của ngân hàng nước ngoài để phân loại nợ, trích lập
và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận.
3. Điều kiện, hồ sơ, trình tự, thủ tục chấp thuận
việc chi nhánh ngân hàng nước ngoài áp dụng chính sách dự phòng rủi ro của ngân
hàng nước ngoài thực hiện theo quy định tại Nghị định về trích lập dự phòng rủi
ro.
4. Đối với chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã được
Ngân hàng Nhà nước chấp thuận áp dụng chính sách dự phòng rủi ro của ngân hàng
nước ngoài, căn cứ kết quả kiểm tra, thanh tra, giám sát, trường hợp Ngân hàng
Nhà nước đánh giá chính sách dự phòng rủi ro của ngân hàng nước ngoài không phản
ánh được đầy đủ mức độ rủi ro tín dụng thực tế trong hoạt động ngân hàng tại Việt
Nam, Ngân hàng Nhà nước có quyền yêu cầu chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện
phân loại nợ theo quy định tại Thông tư này.
Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Thông tư này, những từ ngữ dưới đây được
hiểu như sau:
1. Rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân
hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng (sau đây gọi là rủi ro) là khả năng xảy
ra tổn thất đối với nợ của ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng do khách
hàng không có khả năng trả được một phần hoặc toàn bộ nợ của mình theo hợp đồng
hoặc thỏa thuận (sau đây gọi là thỏa thuận) với ngân hàng, tổ chức tín dụng phi
ngân hàng.
2. Khoản nợ là số tiền ngân hàng, tổ chức
tín dụng phi ngân hàng đã gửi, thanh toán, giải ngân từng lần theo thỏa thuận
(đối với trường hợp mỗi lần giải ngân có thời điểm cuối cùng của thời hạn, kỳ hạn
trả nợ khác nhau) hoặc số tiền ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng đã giải
ngân theo thỏa thuận (đối với trường hợp nhiều lần giải ngân nhưng có thời điểm
cuối cùng của thời hạn và kỳ hạn trả nợ giống nhau) đối với nợ chưa hoàn trả của
một khách hàng.
3. Khoản nợ quá hạn là khoản nợ mà khách
hàng không trả được đúng hạn một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi theo thỏa
thuận với ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng. Đối với khoản cấp tín dụng
dưới hình thức phát hành thẻ tín dụng, khoản nợ quá hạn là khoản nợ mà khách
hàng sử dụng thẻ không trả được nghĩa vụ trả nợ đến hạn thanh toán của mình
theo thỏa thuận phát hành, sử dụng, thanh toán thẻ tín dụng với ngân hàng, tổ
chức tín dụng phi ngân hàng.
4. Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ là nợ được
cơ cấu lại thời hạn trả nợ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
5. Nợ xấu (NPL) là nợ xấu đang hạch toán
trong bảng cân đối kế toán (nợ xấu nội bảng), gồm nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5.
6. Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ giữa nợ xấu so với
tổng các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 5.
7. Tỷ lệ cấp tín dụng xấu là tỷ lệ giữa tổng
của nợ xấu và cam kết ngoại bảng từ nhóm 3 đến nhóm 5 so với tổng các khoản nợ
và cam kết ngoại bảng từ nhóm 1 đến nhóm 5.
8. Khách hàng là tổ chức (bao gồm cả tổ
chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài), cá nhân, các chủ thể khác theo
quy định của pháp luật dân sự có nghĩa vụ hoặc có thể phát sinh nghĩa vụ trả nợ,
thanh toán cho ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng theo thỏa thuận.
9. Các cam kết khác phát sinh rủi ro tín dụng
là cam kết ngoại bảng mà trong trường hợp ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân
hàng thực hiện nghĩa vụ theo cam kết với khách hàng sẽ hình thành các tài sản
có quy định tại khoản 1 Điều 1 Thông tư này.
Điều 4. Thu thập số liệu,
thông tin khách hàng và công nghệ thông tin
1. Ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng có
biện pháp và thường xuyên thực hiện việc thu thập, khai thác thông tin, số liệu
về khách hàng, bao gồm cả thông tin từ Trung tâm Thông tin tín dụng quốc gia Việt
Nam (CIC), công ty thông tin tín dụng theo quy định của pháp luật để:
a) Xây dựng, sửa đổi, bổ sung hệ thống xếp hạng
tín dụng nội bộ, quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý nợ, chính sách dự
phòng rủi ro;
b) Theo dõi, đánh giá tình hình tài chính, khả
năng trả nợ của khách hàng sau khi đã xếp hạng theo hệ thống xếp hạng tín dụng
nội bộ, có biện pháp quản lý rủi ro, quản lý chất lượng tín dụng phù hợp;
c) Thực hiện tự phân loại nợ, cam kết ngoại bảng
theo quy định tại Thông tư này và thực hiện trích lập dự phòng rủi ro và sử dụng
dự phòng rủi ro theo quy định tại Nghị định về trích lập dự phòng rủi ro.
2. Ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng phải
xây dựng hệ thống công nghệ thông tin trong toàn hệ thống đáp ứng yêu cầu quản
lý số liệu, thông tin khách hàng, vận hành và quản lý hệ thống xếp hạng tín dụng
nội bộ, quản trị rủi ro, thực hiện phân loại nợ, cam kết ngoại bảng, trích lập
và sử dụng dự phòng rủi ro.
Điều 5. Hệ thống xếp hạng
tín dụng nội bộ
1. Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ là hệ thống
gồm:
a) Các bộ chỉ tiêu tài chính và phi tài chính,
các quy trình đánh giá khả năng trả nợ, thanh toán của khách hàng trên cơ sở định
tính và định lượng về mặt tài chính, tình hình kinh doanh, quản trị, uy tín của
khách hàng, kể cả khách hàng là đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng; các thông
tin về người có liên quan của khách hàng là đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng;
b) Phương pháp đánh giá xếp hạng cho từng nhóm đối
tượng khách hàng khác nhau.
2. Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ phải được
xây dựng theo các nguyên tắc sau:
a) Xây dựng trên cơ sở số liệu, thông tin của tất
cả khách hàng đã thu thập được trong thời gian ít nhất 01 (một) năm liền kề trước
năm xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ;
b) Ít nhất mỗi năm một lần, hệ thống xếp hạng
tín dụng nội bộ phải được xem xét, đánh giá trên cơ sở số liệu, thông tin khách
hàng thu thập được trong năm; ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng thực hiện
sửa đổi, bổ sung hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ (nếu cần thiết);
c) Có quy định các mức xếp hạng tương ứng với mức
độ rủi ro từ thấp đến cao;
d) Được Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên
(đối với ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng phi ngân hàng), Tổng giám đốc
hoặc Giám đốc (đối với chi nhánh ngân hàng nước ngoài) phê duyệt áp dụng.
3. Ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước
ngoài phải xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ để xếp hạng khách hàng
theo định kỳ và khi cần thiết, làm cơ sở cho việc xét duyệt cấp tín dụng, quản
lý chất lượng tín dụng, xây dựng chính sách dự phòng rủi ro phù hợp với phạm vi
hoạt động, đối tượng khách hàng và tình hình thực tế của ngân hàng thương mại,
chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Tổ chức tín dụng phi ngân hàng không bắt buộc phải
có hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ. Trường hợp tổ chức tín dụng phi ngân hàng
xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ thì phải đáp ứng các quy định tại
Thông tư này.
4. Trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày ban
hành, sửa đổi, bổ sung hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, ngân hàng, tổ chức
tín dụng phi ngân hàng phải gửi trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính hoặc
phương tiện điện tử cho Ngân hàng Nhà nước theo quy định tại khoản 5 Điều này
các văn bản sau:
a) Đối với trường hợp ban hành mới:
(i) Văn bản báo cáo về việc ban hành, áp dụng hệ
thống xếp hạng tín dụng nội bộ;
(ii) Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, tài liệu
mô tả về hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, quy trình thu thập thông tin, số liệu
về khách hàng, xếp hạng khách hàng;
(iii) Hướng dẫn sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng
nội bộ, bao gồm cả việc phân cấp, ủy quyền trong việc thu thập thông tin, số liệu
về khách hàng, xếp hạng khách hàng;
b) Đối với trường hợp sửa đổi, bổ sung:
(i) Văn bản báo cáo về việc sửa đổi, bổ sung hệ
thống xếp hạng tín dụng nội bộ, trong đó báo cáo rõ lý do sửa đổi, bổ sung;
(ii) Các văn bản sửa đổi, bổ sung hệ thống xếp hạng
tín dụng nội bộ và hướng dẫn sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ.
5.[2]
Ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng gửi báo cáo cho Ngân hàng Nhà nước
theo quy định tại khoản 4 Điều này như sau:
a) Ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng gửi
báo cáo cho Ngân hàng Nhà nước (Cục Quản lý, giám sát tổ chức tín dụng), trừ
trường hợp quy định tại điểm b khoản này;
b) Chi nhánh ngân hàng nước ngoài thuộc đối tượng
thanh tra, giám sát an toàn vi mô của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực gửi
báo cáo cho Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực đó.
Điều 6. Quy định nội bộ về cấp
tín dụng, quản lý nợ, chính sách dự phòng rủi ro
1. Ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng phải
ban hành quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý nợ, chính sách dự phòng rủi
ro phù hợp với quy định tại Thông tư này, Nghị định về trích lập dự phòng rủi
ro và các quy định pháp luật khác có liên quan.
2. Quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý nợ tối
thiểu phải đáp ứng các yêu cầu sau:
a) Được xây dựng trên cơ sở thông tin, số liệu
khách hàng đã thu thập được, kết quả xếp hạng khách hàng theo hệ thống xếp hạng
tín dụng nội bộ;
b) Được áp dụng thống nhất và nhất quán trong
toàn hệ thống, làm cơ sở để thẩm định, phê duyệt cấp tín dụng, quản lý nợ đối với
khách hàng cụ thể;
c) Có quy định chính sách tín dụng đối với khách
hàng, trong đó bao gồm quy định về điều kiện cấp tín dụng, hạn mức cấp tín dụng,
lãi suất, hồ sơ, trình tự, thủ tục, quy trình thẩm định, phê duyệt cấp tín dụng,
quản lý nợ;
d) Có quy định về quản lý nhằm đảm bảo tuân thủ
quy định của Ngân hàng Nhà nước về các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt
động của ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng;
đ) Có quy định về trách nhiệm, quyền hạn của các
đơn vị, cá nhân trong việc thẩm định, phê duyệt cấp tín dụng, quản lý chất lượng
tín dụng, quản lý tài sản bảo đảm;
e) Có quy định về quy trình, nội dung kiểm tra,
kiểm soát trước, trong và sau khi cấp tín dụng;
g) Có quy định về biện pháp bảo đảm, thẩm định
và quản lý tài sản bảo đảm;
h) Có quy định về định giá tài sản bảo đảm,
bao gồm nguyên tắc, định kỳ, phương pháp, quy trình và trách nhiệm của từng đơn
vị, cá nhân có liên quan đến việc định giá tài sản bảo đảm theo quy định của
pháp luật để đảm bảo giá trị tài sản bảo đảm phù hợp với giá trị thị trường khi
tính số tiền trích lập dự phòng cụ thể theo quy định tại Nghị định về trích lập
dự phòng rủi ro;
i) Có quy định về các biện pháp thu hồi nợ.
3. Chính sách dự phòng rủi ro tối thiểu phải đáp
ứng các yêu cầu sau:
a) Phù hợp với các quy định của pháp luật về chế
độ kế toán, chế độ tài chính; về chế độ báo cáo, thống kê;
b) Có quy trình thu thập thông tin, số liệu về
khách hàng, bảo đảm phân loại nợ, cam kết ngoại bảng chính xác, quản lý nợ xấu,
quản lý số dư cấp tín dụng xấu, trích lập đầy đủ dự phòng rủi ro theo quy định;
c) Có quy định cụ thể về việc phân loại nợ, cam
kết ngoại bảng, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng
dự phòng rủi ro trong hoạt động đối với từng đối tượng khách hàng theo định kỳ,
đột xuất;
d) Có quy định quyền hạn, trách nhiệm của các
đơn vị, cá nhân trong việc phân loại nợ, cam kết ngoại bảng, trích lập và sử dụng
dự phòng rủi ro trong hoạt động;
đ) Có cơ chế kiểm tra, giám sát và báo cáo các nội
dung quy định từ điểm a đến điểm d Khoản này.
Điều 7. Báo cáo về quy định
nội bộ về cấp tín dụng, quản lý nợ, chính sách dự phòng rủi ro
1. Trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày ban
hành, sửa đổi, bổ sung quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý nợ, chính sách
dự phòng rủi ro quy định tại Điều 6 Thông tư này, ngân hàng,
tổ chức tín dụng phi ngân hàng phải gửi trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính hoặc
phương tiện điện tử cho Ngân hàng Nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều này
văn bản sau:
a) Đối với trường hợp ban hành mới: Quy định nội
bộ về cấp tín dụng, quản lý nợ, chính sách dự phòng rủi ro;
b) Đối với trường hợp sửa đổi, bổ sung:
(i) Văn bản báo cáo về việc sửa đổi, bổ sung quy
định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý nợ, chính sách dự phòng rủi ro, trong đó báo
cáo rõ lý do sửa đổi, bổ sung;
(ii) Các văn bản sửa đổi, bổ sung quy định nội bộ
về cấp tín dụng, quản lý nợ, chính sách dự phòng rủi ro.
2.[3]
Ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng gửi báo cáo cho Ngân hàng Nhà nước
theo quy định tại khoản 1 Điều này như sau:
a) Ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng gửi
báo cáo cho Ngân hàng Nhà nước (Cục Quản lý, giám sát tổ chức tín dụng), trừ
trường hợp quy định tại điểm b khoản này;
b) Chi nhánh ngân hàng nước ngoài thuộc đối tượng
thanh tra, giám sát an toàn vi mô của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực gửi
báo cáo cho Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực đó.
Điều 8. Thời điểm, trình tự
phân loại nợ
1. Ít nhất mỗi tháng một lần, trong 07 (bảy)
ngày đầu tiên của tháng, ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng căn cứ quy định
tại khoản 4 Điều 1, Điều 9, Điều 10, Điều 11
Thông tư này để tự thực hiện phân loại nợ, cam kết ngoại bảng đến thời điểm
cuối ngày cuối cùng của tháng trước liền kề theo kết quả tự phân loại nợ, cam kết
ngoại bảng và gửi kết quả tự phân loại nợ, cam kết ngoại bảng cho CIC.
Ngoài thời điểm phân loại nêu trên, ngân hàng, tổ
chức tín dụng phi ngân hàng được tự thực hiện phân loại nợ, cam kết ngoại bảng
theo quy định nội bộ.
2. Trong thời hạn 03 (ba) ngày kể từ ngày nhận
được kết quả tự phân loại nợ, cam kết ngoại bảng của ngân hàng, tổ chức tín dụng
phi ngân hàng quy định tại khoản 1 Điều này, CIC tổng hợp danh sách khách hàng
theo nhóm nợ có mức độ rủi ro cao nhất mà các ngân hàng, tổ chức tín dụng phi
ngân hàng đã tự phân loại và cung cấp cho ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân
hàng.
3. Trong thời hạn 03 (ba) ngày kể từ ngày nhận
được danh sách khách hàng do CIC cung cấp theo quy định tại khoản 2 Điều này,
ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng điều chỉnh nhóm nợ theo nhóm nợ của
danh sách khách hàng do CIC cung cấp.
Trường hợp kết quả tự phân loại nợ, cam kết ngoại
bảng của khách hàng theo quy định tại khoản 1 Điều này thấp hơn nhóm nợ theo
danh sách khách hàng do CIC cung cấp, ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng
phải điều chỉnh kết quả phân loại nợ, cam kết ngoại bảng theo nhóm nợ của khách
hàng do CIC cung cấp.
4. Căn cứ kết quả kiểm tra, thanh tra, giám sát
và thông tin tín dụng có liên quan, Ngân hàng Nhà nước có quyền yêu cầu ngân
hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng thực hiện việc đánh giá, phân loại lại các
khoản nợ cụ thể phù hợp với mức độ rủi ro của các khoản nợ đó.
Chương II
QUY ĐỊNH CỤ THỂ
Mục 1. PHÂN LOẠI NỢ VÀ CAM
KẾT NGOẠI BẢNG
Điều 9. Nguyên tắc tự phân
loại
1. Toàn bộ dư nợ và số dư cam kết ngoại bảng của
một khách hàng tại một ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng phải được phân
loại vào cùng một nhóm nợ và là nhóm nợ có mức độ rủi ro cao nhất trong các
nhóm nợ của các khoản nợ và/hoặc cam kết ngoại bảng của khách hàng đó.
2. Đối với khoản cấp tín dụng hợp vốn, từng
tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tham gia cấp tín dụng hợp vốn
có trách nhiệm thông báo cho ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng là thành
viên tham gia cấp tín dụng hợp vốn về kết quả tự phân loại nợ theo quy định tại
khoản 1 Điều 8 Thông tư này.
3. Đối với khoản ủy thác cấp tín dụng (trừ khoản
ủy thác phát hành thư tín dụng), khoản ủy thác mua trái phiếu chưa niêm yết mà
bên nhận ủy thác chưa giải ngân hết số tiền đã ủy thác theo hợp đồng ủy thác,
ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng ủy thác phải phân loại số tiền đã ủy
thác nhưng chưa giải ngân như là một khoản cho vay đối với bên nhận ủy thác. Thời
gian quá hạn được xác định từ thời điểm bên nhận ủy thác không giải ngân đúng
theo thời hạn giải ngân quy định tại hợp đồng ủy thác.
Đối với khoản ủy thác phát hành thư tín dụng,
bên nhận ủy thác phân loại khoản trả thay theo hợp đồng ủy thác đối với bên ủy
thác và bên ủy thác phân loại khoản trả thay theo cam kết tại thư tín dụng đối
với bên đề nghị theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 10 Thông
tư này, kể từ ngày bên nhận ủy thác thanh toán cho bên thụ hưởng.
4. Đối với khoản nợ đã bán (trừ khoản nợ đã được
sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro) nhưng chưa thu được đầy đủ tiền bán nợ thì
ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng bán nợ phân loại số tiền chưa thu được
theo hợp đồng mua, bán nợ như là khoản nợ chưa bán, cụ thể như sau:
Ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng bán nợ
phân loại số tiền chưa thu được đối với bên mua nợ vào nhóm nợ mà khoản nợ đó
đã được phân loại tại thời điểm phân loại nợ gần nhất trước khi bán và căn cứ
vào các thông tin về thời hạn, kỳ hạn và thông tin khác tại hợp đồng tín dụng
đã ký với khách hàng có khoản nợ được bán để tiếp tục phân loại số tiền chưa
thu được theo quy định tại Thông tư này.
5. Đối với khoản nợ tổ chức tín dụng nhận chuyển
giao bắt buộc bán cho tổ chức tín dụng được chuyển giao bắt buộc theo phương án
chuyển giao bắt buộc được cấp có thẩm quyền phê duyệt nhưng chưa thu được đầy đủ
tiền bán nợ thì tổ chức tín dụng nhận chuyển giao bắt buộc phân loại số tiền
chưa thu được đối với tổ chức tín dụng được chuyển giao bắt buộc theo quy định
tại khoản 4 Điều này, không áp dụng quy định tại điểm đ(viii)
khoản 1 Điều 10 Thông tư này và không phải điều chỉnh nhóm nợ theo danh
sách khách hàng do CIC cung cấp quy định tại khoản 3 Điều 8
Thông tư này (nếu có) trong thời gian thực hiện phương án chuyển giao bắt
buộc.
6. Đối với khoản nợ đã mua, tại thời điểm mua nợ
ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng mua nợ phân loại số tiền mua nợ đã
thanh toán vào nhóm nợ có mức độ rủi ro không thấp hơn nhóm nợ mà khoản nợ đó
đã được phân loại tại thời điểm phân loại nợ gần nhất trước khi mua và tiếp tục
thực hiện phân loại số tiền mua nợ như khoản nợ tại chính ngân hàng, tổ chức
tín dụng phi ngân hàng theo quy định tại Thông tư này.
7. Đối với số tiền mua, ủy thác cho tổ chức khác
(bao gồm cả tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài) mua trái phiếu
chưa niêm yết, ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng phân loại số tiền mua
trái phiếu như là một khoản cho vay đối với bên phát hành trái phiếu; trường hợp
trái phiếu doanh nghiệp có bảo đảm thì phân loại như là một khoản cho vay có bảo
đảm đối với bên phát hành trái phiếu.
Đối với số tiền mua, ủy thác cho tổ chức khác
mua trái phiếu chưa niêm yết được kéo dài kỳ hạn trái phiếu theo quy định của
pháp luật thì được phân loại như một khoản cho vay được gia hạn nợ.
8. Đối với khoản chiết khấu các công cụ chuyển
nhượng và giấy tờ có giá khác:
a) Dưới hình thức mua có kỳ hạn: Ngân hàng, tổ
chức tín dụng phi ngân hàng phân loại khoản chiết khấu như là một khoản cho vay
đối với người thụ hưởng;
b) Dưới hình thức mua có bảo lưu quyền truy đòi:
Ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng phân loại khoản chiết khấu như là một
khoản cho vay đối với người thụ hưởng như sau:
Trước thời điểm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi
ngân hàng có quyền thực hiện quyền truy đòi theo hợp đồng chiết khấu, ngân
hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng căn cứ vào tình hình thực hiện nghĩa vụ trả
nợ, thanh toán của người phát hành theo thỏa thuận phát hành công cụ chuyển nhượng,
giấy tờ có giá và thông tin, dữ liệu về khả năng trả nợ của người thụ hưởng để
thực hiện phân loại đối với khoản chiết khấu.
Kể từ thời điểm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi
ngân hàng có quyền thực hiện quyền truy đòi theo hợp đồng chiết khấu, ngân
hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng căn cứ thời gian quá hạn theo thỏa thuận
phát hành công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá và khả năng trả nợ của người thụ
hưởng để tiếp tục phân loại khoản chiết khấu vào nhóm nợ có mức độ rủi ro phù hợp.
9. Đối với các khoản nợ vi phạm pháp luật quy định
tại điểm c(iv) khoản 1 Điều 10 Thông tư này, tại thời điểm
phát hiện vi phạm, ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng phải ra ngay quyết
định thu hồi theo quy định của pháp luật.
Đối với các khoản nợ phải thu hồi theo kết luận
thanh tra, kiểm tra, quyết định xử phạt vi phạm hành chính (sau đây gọi là thu
hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra), ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân
hàng phải ra quyết định thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra.
Đối với các khoản nợ vi phạm pháp luật quy định
tại điểm c(iv) khoản 1 Điều 10 Thông tư này, các khoản nợ phải
thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra, ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân
hàng không được cơ cấu lại thời hạn trả nợ và trong thời gian chưa thu hồi được
theo quyết định thu hồi, ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng thực hiện
phân loại nợ theo quy định tại Thông tư này.
10. Đối với khoản nợ phát sinh từ hoạt động bao
thanh toán:
a) Đối với bao thanh toán bên mua hàng, bao
thanh toán bên bán hàng không có cam kết hoàn trả: Ngân hàng, tổ chức tín dụng
phi ngân hàng thực hiện phân loại khoản bao thanh toán như một khoản cho vay đối
với bên mua hàng căn cứ tình hình thực hiện nghĩa vụ trả nợ, thanh toán của bên
mua hàng theo hợp đồng bao thanh toán;
b) Đối với bao thanh toán bên bán hàng có cam kết
hoàn trả: Ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng phân loại khoản bao thanh
toán như là một khoản cho vay đối với bên bán hàng căn cứ tình hình thực hiện
nghĩa vụ trả nợ, thanh toán của bên bán hàng theo hợp đồng bao thanh toán.
11. Đối với khoản mua bán lại trái phiếu Chính
phủ, ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng phân loại số tiền đã thanh toán
để mua như là một khoản cho vay đối với bên bán trong giao dịch mua (giao dịch
lần 1) theo quy định của pháp luật về đăng ký, lưu ký, niêm yết, giao dịch và
thanh toán giao dịch công cụ nợ của Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo
lãnh do ngân hàng chính sách phát hành và trái phiếu chính quyền địa phương.
12. Đối với số tiền mua chứng chỉ tiền gửi do tổ
chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác phát hành, ngân hàng, tổ chức
tín dụng phi ngân hàng phân loại số tiền mua như một khoản cho vay đối với tổ
chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phát hành.
13. Đối với khoản nợ phát sinh từ nghiệp vụ thư
tín dụng:
a) Đối với nghiệp vụ phát hành thư tín dụng:
(i) Trường hợp phát hành thư tín dụng trả ngay
hoặc trả chậm (trừ trường hợp quy định tại điểm a(ii) Khoản này), ngân hàng
phát hành phân loại khoản trả thay theo cam kết tại thư tín dụng theo quy định
tại điểm b khoản 4 Điều 10 Thông tư này đối với bên đề nghị,
kể từ ngày ngân hàng phát hành thanh toán cho bên thụ hưởng;
(ii) Trường hợp phát hành thư tín dụng trả chậm
có điều khoản thỏa thuận bên thụ hưởng được thanh toán trả ngay hoặc trả trước
ngày đến hạn thanh toán thư tín dụng, ngân hàng phát hành phân loại khoản nợ
phát sinh từ nghiệp vụ thư tín dụng như là một khoản cho vay đối với bên đề nghị,
kể từ ngày ngân hàng hoàn trả thanh toán cho bên thụ hưởng;
b) Đối với nghiệp vụ xác nhận thư tín dụng:
Ngân hàng xác nhận phân loại khoản trả thay theo
cam kết tại thư tín dụng đối với ngân hàng phát hành và ngân hàng phát hành
phân loại khoản trả thay theo cam kết tại thư tín dụng đối với bên đề nghị theo
quy định tại điểm b khoản 4 Điều 10 Thông tư này, kể từ thời
điểm ngân hàng xác nhận thanh toán cho bên thụ hưởng;
c) Đối với nghiệp vụ thương lượng thanh toán thư
tín dụng:
Ngân hàng thương lượng phân loại khoản nợ phát
sinh từ nghiệp vụ thư tín dụng đối với bên thụ hưởng như khoản chiết khấu các
công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác quy định tại khoản 8 Điều này;
d) Đối với nghiệp vụ hoàn trả thư tín dụng:
(i) Trường hợp hoàn trả thư tín dụng theo hình
thức phát hành cam kết hoàn trả, ngân hàng hoàn trả phân loại khoản trả thay
theo cam kết tại thư tín dụng theo quy định tại điểm b khoản 4
Điều 10 Thông tư này đối với ngân hàng phát hành, kể từ ngày ngân hàng hoàn
trả thanh toán cho bên thụ hưởng;
(ii) Trường hợp hoàn trả thư tín dụng theo hình
thức thỏa thuận với khách hàng thanh toán bằng nguồn tiền của ngân hàng hoàn trả
(trừ trường hợp quy định tại điểm d(i) Khoản này), ngân hàng hoàn trả phân loại
khoản nợ phát sinh từ nghiệp vụ thư tín dụng như là một khoản cho vay đối với
ngân hàng phát hành, kể từ ngày ngân hàng hoàn trả thanh toán cho bên thụ hưởng;
đ) Đối với số tiền mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng
từ xuất trình theo thư tín dụng, ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng phân
loại số tiền mua như một khoản cho vay đối với ngân hàng phát hành hoặc ngân
hàng xác nhận.
14. Đối với các khoản cho vay, tiền gửi của tổ
chức tín dụng hỗ trợ tại tổ chức tín dụng đang được kiểm soát đặc biệt theo quy
định tại khoản 9 Điều 174 Luật Các tổ chức tín dụng, tổ chức tín dụng hỗ trợ được
phân loại vào nhóm nợ đủ tiêu chuẩn và không phải điều chỉnh nhóm nợ theo danh
sách khách hàng do CIC cung cấp quy định tại khoản 3 Điều 8
Thông tư này (nếu có).
15. Đối với cho vay, bảo lãnh, tiền gửi của tổ
chức tín dụng nhận chuyển giao bắt buộc và các tổ chức tín dụng khác tại ngân
hàng thương mại được chuyển giao bắt buộc theo quy định tại khoản 2 Điều 182 Luật
Các tổ chức tín dụng, tổ chức tín dụng nhận chuyển giao bắt buộc và các tổ chức
tín dụng khác được phân loại vào nhóm nợ đủ tiêu chuẩn và không phải điều chỉnh
nhóm nợ theo danh sách khách hàng do CIC cung cấp quy định tại khoản
3 Điều 8 Thông tư này (nếu có) trong thời gian thực hiện phương án chuyển
giao bắt buộc.
16. Đối với khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả
nợ, số lần cơ cấu lại thời hạn trả nợ là tổng số lần thực hiện việc cơ cấu lại
thời hạn trả nợ đối với từng khoản nợ, kể từ thời điểm phát sinh khoản nợ đến
thời điểm khách hàng hoàn thành toàn bộ nghĩa vụ trả nợ, thanh toán cho ngân
hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng.
Điều 10. Phân loại nợ và
cam kết ngoại bảng theo phương pháp định lượng
1. Ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng thực
hiện phân loại nợ (trừ các khoản trả thay theo cam kết ngoại bảng) theo 05 nhóm
như sau:
a) Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:
(i) Khoản nợ trong hạn và được đánh giá là có khả
năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn;
(ii) Khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và được đánh
giá là có khả năng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ nợ
gốc và lãi còn lại đúng thời hạn;
(iii) Khoản nợ được phân loại vào nhóm 1 theo
quy định tại khoản 2 Điều này;
b) Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:
(i) Khoản nợ quá hạn đến 90 ngày, trừ khoản nợ
quy định tại điểm a(ii) Khoản này, khoản 3 Điều này;
(ii) Khoản nợ được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần
đầu còn trong hạn, trừ khoản nợ quy định tại điểm b khoản 2, khoản 3 Điều này;
(iii) Khoản nợ được phân loại vào nhóm 2 theo
quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này;
c) Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
(i) Khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày, trừ
khoản nợ quy định tại khoản 3 Điều này;
(ii) Khoản nợ gia hạn nợ lần đầu còn trong hạn,
trừ khoản nợ quy định tại điểm b khoản 2, khoản 3 Điều này;
(iii) Khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách
hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo thỏa thuận, trừ khoản nợ quy định tại
khoản 3 Điều này;
(iv) Khoản nợ thuộc một trong các trường hợp sau
đây chưa thu hồi được trong thời gian dưới 30 ngày kể từ ngày ngân hàng, tổ chức
tín dụng phi ngân hàng ký văn bản thu hồi khoản nợ (sau đây gọi là ngày có quyết
định thu hồi):
- Khoản nợ vi phạm quy định tại các khoản
1, 3, 4, 5, 6 Điều 134 Luật Các tổ chức tín dụng;
- Khoản nợ vi phạm quy định tại các khoản 1,
2, 3, 4 Điều 135 Luật Các tổ chức tín dụng;
- Khoản nợ vi phạm quy định tại các khoản
1, 2, 5, 9 Điều 136 Luật Các tổ chức tín dụng;
(v) Khoản nợ trong thời hạn thu hồi theo kết luận
thanh tra, kiểm tra;
(vi) Khoản nợ phải thu hồi theo quyết định thu hồi
nợ trước hạn của ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng do khách hàng vi phạm
thỏa thuận với ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng chưa thu hồi được
trong thời gian dưới 30 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi;
(vii) Khoản nợ được phân loại vào nhóm 3
theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này;
(viii) Khoản nợ phải phân loại vào nhóm 3 theo
quy định tại khoản 4 Điều 8 Thông tư này;
d) Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
(i) Khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày,
trừ khoản nợ quy định tại khoản 3 Điều này;
(ii) Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu
quá hạn đến 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu, trừ khoản nợ
quy định tại khoản 3 Điều này;
(iii) Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ
hai còn trong hạn, trừ khoản nợ quy định tại điểm b khoản 2, khoản 3 Điều này;
(iv) Khoản nợ quy định tại điểm c(iv) khoản 1 Điều
này chưa thu hồi được trong thời gian từ 30 ngày đến 60 ngày kể từ ngày có quyết
định thu hồi;
(v) Khoản nợ phải thu hồi theo kết luận thanh
tra, kiểm tra nhưng quá thời hạn thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra đến
60 ngày mà chưa thu hồi được;
(vi) Khoản nợ phải thu hồi theo quyết định thu hồi
nợ trước hạn của ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng do khách hàng vi phạm
thỏa thuận với ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng chưa thu hồi được
trong thời gian từ 30 ngày đến 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi;
(vii) Khoản nợ được phân loại vào nhóm 4
theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này;
(viii) Khoản nợ phải phân loại vào nhóm 4
theo quy định tại khoản 4 Điều 8 Thông tư này;
đ) Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
(i) Khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;
(ii) Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu
quá hạn từ 91 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
(iii) Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ
hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;
(iv) Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ
ba trở lên, trừ khoản nợ quy định tại điểm b khoản 2 Điều này;
(v) Khoản nợ quy định tại điểm c(iv) khoản 1 Điều
này chưa thu hồi được trên 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi;
(vi) Khoản nợ phải thu hồi theo kết luận thanh
tra, kiểm tra nhưng quá thời hạn thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra trên
60 ngày mà chưa thu hồi được;
(vii) Khoản nợ phải thu hồi theo quyết định thu
hồi nợ trước hạn của ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng do khách hàng vi
phạm thỏa thuận với ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng chưa thu hồi được
trên 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi;
(viii) Khoản nợ của khách hàng là tổ chức
tín dụng đang được kiểm soát đặc biệt, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang bị
phong tỏa vốn và tài sản;
(ix) Khoản nợ được phân loại vào nhóm 5
theo quy định tại khoản 3 Điều này;
(x) Khoản nợ phải phân loại vào nhóm 5 theo quy
định tại khoản 4 Điều 8 Thông tư này.
2. Khoản nợ được phân loại vào nhóm nợ có rủi ro
thấp hơn trong các trường hợp sau đây:
a) Đối với khoản nợ quá hạn, ngân hàng, tổ chức
tín dụng phi ngân hàng phân loại lại vào nhóm nợ có rủi ro thấp hơn (kể cả nhóm
1) khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:
(i) Khách hàng đã trả đầy đủ phần nợ gốc và lãi
bị quá hạn (kể cả lãi áp dụng đối với nợ gốc quá hạn) và nợ gốc, lãi của các kỳ
hạn trả nợ tiếp theo (nếu có) trong thời gian tối thiểu 03 (ba) tháng đối với nợ
trung hạn, dài hạn, 01 (một) tháng đối với nợ ngắn hạn, kể từ ngày bắt đầu trả
đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn;
(ii) Có tài liệu, hồ sơ chứng minh việc khách
hàng đã trả nợ;
(iii) Ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng
có đủ cơ sở thông tin, tài liệu đánh giá khách hàng có khả năng trả đầy đủ nợ gốc
và lãi còn lại đúng thời hạn;
b) Đối với khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ,
ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng phân loại lại vào nhóm nợ có rủi ro
thấp hơn (kể cả nhóm 1) khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:
(i) Khách hàng đã trả đầy đủ nợ gốc, lãi theo thời
hạn trả nợ được cơ cấu lại (nếu có) trong thời gian tối thiểu 03 (ba) tháng đối
với nợ trung hạn, dài hạn, 01 (một) tháng đối với nợ ngắn hạn, kể từ ngày bắt đầu
trả đầy đủ nợ gốc hoặc lãi theo thời hạn được cơ cấu lại; trường hợp gốc và lãi
có cùng 01 (một) kỳ hạn trả nợ thì tính kể từ ngày bắt đầu trả đầy đủ nợ gốc và
lãi;
(ii) Có tài liệu, hồ sơ chứng minh việc khách
hàng đã trả nợ;
(iii) Ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng
có đủ cơ sở thông tin, tài liệu để đánh giá khách hàng có khả năng trả đầy đủ nợ
gốc và lãi còn lại đúng thời hạn đã được cơ cấu lại;
c) Đối với khoản nợ được miễn, giảm lãi theo quy
định của Ngân hàng Nhà nước về việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước
ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm
hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid - 19, ngân hàng, tổ chức tín dụng
phi ngân hàng phân loại lại vào nhóm nợ có rủi ro thấp hơn (kể cả nhóm 1) khi
đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:
(i) Khách hàng đã trả đầy đủ nợ gốc, lãi trong
thời gian tối thiểu 03 (ba) tháng đối với nợ trung hạn, dài hạn, 01 (một) tháng
đối với nợ ngắn hạn, kể từ ngày khách hàng bắt đầu trả đầy đủ nợ gốc hoặc lãi của
kỳ hạn trả nợ gần nhất sau khi khách hàng không còn được miễn, giảm lãi; trường
hợp gốc và lãi có cùng 01 (một) kỳ hạn trả nợ thì tính kể từ ngày bắt đầu trả đầy
đủ nợ gốc và lãi của kỳ hạn trả nợ gần nhất sau khi khách hàng không còn được
miễn, giảm lãi;
(ii) Có tài liệu, hồ sơ chứng minh việc khách
hàng đã trả nợ;
(iii) Ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng
có đủ cơ sở thông tin, tài liệu để đánh giá khách hàng có khả năng trả đầy đủ nợ
gốc và lãi còn lại đúng thời hạn.
3. Khoản nợ được phân loại vào nhóm nợ có rủi ro
cao hơn trong các trường hợp sau đây:
a) Các chỉ tiêu về khả năng sinh lời, khả năng
thanh toán, tỷ lệ nợ trên vốn, dòng tiền dẫn đến khả năng trả nợ của khách hàng
suy giảm liên tục qua 03 lần đánh giá hoặc phân loại nợ liên tục;
b) Khách hàng không cung cấp đầy đủ, kịp thời và
trung thực các thông tin theo yêu cầu của ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân
hàng để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng;
c) Khoản nợ đã được phân loại vào nhóm 2, nhóm
3, nhóm 4 theo quy định tại điểm a, b Khoản này từ 01 (một) năm trở lên nhưng
không đủ điều kiện phân loại vào nhóm nợ có rủi ro thấp hơn;
d) Khoản nợ mà hành vi cấp tín dụng bị xử phạt
vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
4. Phân loại cam kết ngoại bảng và khoản trả
thay theo cam kết ngoại bảng:
a) Phân loại cam kết ngoại bảng:
(i) Phân loại vào nhóm 1 nếu ngân hàng, tổ chức
tín dụng phi ngân hàng đánh giá khách hàng có khả năng thực hiện đầy đủ các
nghĩa vụ theo cam kết;
(ii) Phân loại vào nhóm 2 trở lên nếu ngân hàng,
tổ chức tín dụng phi ngân hàng đánh giá khách hàng không có khả năng thực hiện
các nghĩa vụ theo cam kết;
(iii) Phân loại vào nhóm 3 trở lên đối với cam kết
ngoại bảng thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm c(iv) khoản 1 Điều
này;
b) Phân loại khoản trả thay theo cam kết ngoại bảng:
(i) Ngày quá hạn được tính ngay từ ngày ngân
hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng thực hiện nghĩa vụ theo cam kết;
(ii) Khoản trả thay theo cam kết ngoại bảng được
phân loại như sau:
- Phân loại vào nhóm 3 nếu quá hạn dưới 30 ngày;
- Phân loại vào nhóm 4 nếu quá hạn từ 30 ngày đến
dưới 90 ngày;
- Phân loại vào nhóm 5 nếu quá hạn từ 90 ngày trở
lên.
Trường hợp khoản trả thay phân loại vào nhóm rủi
ro thấp hơn nhóm mà cam kết ngoại bảng được trả thay đã phân loại theo quy định
tại điểm a(ii), điểm a(iii) Khoản này thì phải chuyển vào nhóm mà cam kết ngoại
bảng đó đã phân loại.
Điều 11. Phân loại nợ và
cam kết ngoại bảng theo phương pháp định tính
1. Ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng được
thực hiện phân loại nợ, cam kết ngoại bảng theo quy định tại Khoản này sau khi
được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận. Ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng
phân loại nợ, cam kết ngoại bảng theo 05 nhóm như sau:
a) Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:
Các khoản nợ được ngân hàng, tổ chức tín dụng
phi ngân hàng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn.
Các cam kết ngoại bảng được ngân hàng, tổ chức
tín dụng phi ngân hàng đánh giá là khách hàng có khả năng thực hiện đầy đủ
nghĩa vụ theo cam kết;
b) Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:
Các khoản nợ được ngân hàng, tổ chức tín dụng
phi ngân hàng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có
dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ.
Các cam kết ngoại bảng được ngân hàng, tổ chức
tín dụng phi ngân hàng đánh giá là khách hàng có khả năng thực hiện nghĩa vụ
theo cam kết nhưng có dấu hiệu suy giảm khả năng thực hiện cam kết;
c) Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
Các khoản nợ được ngân hàng, tổ chức tín dụng
phi ngân hàng đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn.
Các khoản nợ này được ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng đánh giá là có
khả năng tổn thất.
Các cam kết ngoại bảng được ngân hàng, tổ chức
tín dụng phi ngân hàng đánh giá là khách hàng không có khả năng thực hiện đầy đủ
nghĩa vụ theo cam kết.
Nợ phải phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại khoản 4 Điều 8 Thông tư này;
d) Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
Các khoản nợ được ngân hàng, tổ chức tín dụng
phi ngân hàng đánh giá là có khả năng tổn thất cao.
Các cam kết ngoại bảng mà khả năng khách hàng
không thực hiện cam kết là rất cao.
Nợ phải phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại khoản 4 Điều 8 Thông tư này;
đ) Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
Các khoản nợ được ngân hàng, tổ chức tín dụng
phi ngân hàng đánh giá là không còn khả năng thu hồi, có khả năng mất vốn.
Các cam kết ngoại bảng mà khách hàng không còn
khả năng thực hiện nghĩa vụ cam kết.
Nợ phải phân loại vào nhóm 5 theo quy định tại khoản 4 Điều 8 Thông tư này.
2. Ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng thực
hiện phân loại nợ, cam kết ngoại bảng theo quy định tại khoản 1 Điều này phải
đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sau đây:
a) Có Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ phù hợp
với hoạt động kinh doanh, đối tượng khách hàng, tính chất rủi ro của khoản nợ
và có thời gian thử nghiệm tối thiểu 01 (một) năm;
b) Có chính sách dự phòng rủi ro theo quy định tại
khoản 3 Điều 6 Thông tư này;
c) Có chính sách quản lý rủi ro tín dụng, mô
hình giám sát rủi ro tín dụng, phương pháp xác định, đo lường rủi ro tín dụng
(trong đó bao gồm cách thức đánh giá về khả năng trả nợ của khách hàng theo hợp
đồng tín dụng, tài sản bảo đảm, khả năng thu hồi nợ) và quản lý nợ;
d) Phân định rõ ràng trách nhiệm, quyền hạn của
Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc (Giám đốc) trong việc phê
duyệt, ban hành và kiểm tra thực hiện Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, chính
sách dự phòng rủi ro của ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng và tính độc
lập của các bộ phận quản lý rủi ro.
3. Ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng gửi
trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính đến trụ sở chính Ngân hàng Nhà nước (Bộ phận
Một cửa) 01 (một) bộ hồ sơ đề nghị Ngân hàng Nhà nước chấp thuận theo khoản 1
Điều này, gồm các văn bản sau:
a) Văn bản của ngân hàng, tổ chức tín dụng phi
ngân hàng đề nghị Ngân hàng Nhà nước chấp thuận cho phép thực hiện phân loại nợ,
cam kết ngoại bảng theo phương pháp định tính quy định tại khoản 1 Điều này,
trong đó phải chứng minh đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này;
b) Bản sao hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ,
chính sách dự phòng rủi ro, chính sách quản lý rủi ro tín dụng và các dự thảo
văn bản hướng dẫn thực hiện phân loại nợ, cam kết ngoại bảng và trích lập dự
phòng rủi ro của ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng và tài liệu chứng
minh đáp ứng đủ điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này.
4.[4]
Trong thời hạn 20 (hai mươi) ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định
tại khoản 3 Điều này, Ngân hàng Nhà nước có văn bản chấp thuận cho ngân hàng, tổ
chức tín dụng phi ngân hàng thực hiện phân loại nợ, cam kết ngoại bảng theo
phương pháp định tính quy định tại Điều này. Trường hợp không chấp thuận, Ngân
hàng Nhà nước có văn bản nêu rõ lý do.
5. Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, chính sách
dự phòng rủi ro, chính sách quản lý rủi ro tín dụng phải được ngân hàng, tổ chức
tín dụng phi ngân hàng đánh giá lại hàng năm theo quy định tại Thông tư này và
các quy định của Ngân hàng Nhà nước về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng,
tổ chức tín dụng phi ngân hàng.
6. Ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng được
chấp thuận thực hiện phân loại nợ, cam kết ngoại bảng theo quy định tại khoản 1
Điều này phải thực hiện như sau:
a) Trong thời gian tối thiểu 03 (ba) năm kể từ
ngày được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận, ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân
hàng đồng thời thực hiện phân loại nợ và cam kết ngoại bảng theo quy định tại
khoản 1 Điều này và tại Điều 10 Thông tư này. Trường hợp kết
quả phân loại đối với một khoản nợ và cam kết ngoại bảng theo quy định tại Điều 10 Thông tư này và khoản 1 Điều này khác nhau thì khoản nợ,
cam kết ngoại bảng phải được phân loại vào nhóm có mức độ rủi ro cao hơn.
Trong thời gian quy định tại điểm này, ngân
hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng xem xét sửa đổi, bổ sung hệ thống xếp hạng
tín dụng nội bộ, chính sách dự phòng rủi ro, chính sách quản lý rủi ro tín dụng
(nếu thấy cần thiết) để thực hiện được nguyên tắc quy định tại điểm b(ii) Khoản
này;
b) Trong thời gian 02 (hai) năm tiếp theo sau thời
gian quy định tại điểm a Khoản này, ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng
phải thực hiện như sau:
(i) Đồng thời thực hiện phân loại nợ và cam kết
ngoại bảng theo quy định tại khoản 1 Điều này và tại Điều 10
Thông tư này;
(ii) Đảm bảo nguyên tắc tổng số tiền trích lập dự
phòng cụ thể từng năm tài chính được xác định trên cơ sở kết quả phân loại nợ
theo quy định tại khoản 1 Điều này không thấp hơn tổng số tiền trích lập dự
phòng cụ thể được xác định trên cơ sở kết quả phân loại nợ theo quy định tại Điều 10 Thông tư này;
(iii) Trường hợp từng năm tài chính ngân hàng, tổ
chức tín dụng phi ngân hàng đảm bảo nguyên tắc quy định tại điểm b(ii) Khoản
này, ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng sử dụng kết quả phân loại nợ
theo quy định tại khoản 1 Điều này để thực hiện trích lập dự phòng rủi ro theo
quy định tại Nghị định về trích lập dự phòng rủi ro;
c) Sau thời gian quy định tại điểm a, điểm b Khoản
này và đảm bảo nguyên tắc quy định tại điểm b(ii) Khoản này, ngân hàng, tổ chức
tín dụng phi ngân hàng áp dụng phương pháp phân loại nợ, cam kết ngoại bảng
theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp quy định tại khoản 7 và khoản
8 Điều này.
Trường hợp sau thời gian quy định tại điểm a Khoản
này, ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng không đảm bảo nguyên tắc quy định
tại điểm b(ii) Khoản này thì ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng phải thực
hiện phương pháp định lượng theo quy định tại Điều 10 Thông tư
này;
d) Trong thời gian quy định tại điểm a và điểm b
Khoản này, hằng năm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng có văn bản báo
cáo Ngân hàng Nhà nước việc thực hiện quy định tại tại điểm a và điểm b Khoản
này.
7. Đối với ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân
hàng đã được áp dụng phương pháp phân loại nợ, cam kết ngoại bảng quy định tại
khoản 1 Điều này theo quy định tại điểm c khoản 6 Điều này, trường hợp sửa đổi,
bổ sung hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, chính sách dự phòng rủi ro, chính
sách quản lý rủi ro tín dụng, ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng phải
báo cáo Ngân hàng Nhà nước về việc sửa đổi, bổ sung hệ thống xếp hạng tín dụng
nội bộ, chính sách dự phòng rủi ro, chính sách quản lý rủi ro tín dụng, trong
đó đánh giá việc đáp ứng nguyên tắc tổng số tiền trích lập dự phòng cụ thể được
xác định trên cơ sở kết quả phân loại nợ theo quy định tại khoản 1 Điều này sau
khi sửa đổi, bổ sung không thấp hơn tổng số tiền trích lập dự phòng cụ thể được
xác định trên cơ sở kết quả phân loại nợ theo quy định tại Điều
10 Thông tư này cho năm tài chính bắt đầu áp dụng hệ thống xếp hạng tín dụng
nội bộ, chính sách dự phòng rủi ro, chính sách quản lý rủi ro tín dụng được sửa
đổi, bổ sung. Trường hợp ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng đánh giá
không đáp ứng nguyên tắc này, ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng phải thực
hiện phương pháp định lượng theo quy định tại Điều 10 Thông tư
này.
8. Căn cứ kết quả kiểm tra, thanh tra, giám sát,
trường hợp Ngân hàng Nhà nước đánh giá việc áp dụng phương pháp định tính theo
quy định tại khoản 1 Điều này không phản ánh được đầy đủ mức độ rủi ro tín dụng
thực tế trong hoạt động ngân hàng của ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân
hàng, Ngân hàng Nhà nước có quyền yêu cầu ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân
hàng thực hiện phương pháp định lượng theo quy định tại Điều 10
Thông tư này.
Mục 2. QUẢN LÝ NỢ, CAM KẾT
NGOẠI BẢNG, TRÍCH LẬP VÀ SỬ DỤNG DỰ PHÒNG RỦI RO
Điều 12. Quản lý nợ, cam kết
ngoại bảng, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro
1. Ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng phải
có bộ phận quản lý nợ, cam kết ngoại bảng (phòng, ban hoặc tương đương) tại trụ
sở chính của ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, trụ sở chi
nhánh ngân hàng nước ngoài để quản lý việc thực hiện việc phân loại nợ, cam kết
ngoại bảng, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro trong toàn hệ thống theo quy định
của pháp luật.
2. Trách nhiệm của bộ phận quản lý nợ, cam kết
ngoại bảng:
a) Xây dựng, trình Tổng giám đốc (Giám đốc) để
trình Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên (đối với ngân hàng thương mại, tổ
chức tín dụng phi ngân hàng) hoặc trình Tổng giám đốc (Giám đốc) (đối với chi
nhánh ngân hàng nước ngoài) phê duyệt áp dụng, ban hành:
(i) Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, bổ sung,
sửa đổi hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ;
(ii) Chính sách dự phòng rủi ro, sửa đổi, bổ
sung chính sách dự phòng rủi ro;
b) Xây dựng, trình Tổng giám đốc (Giám đốc) ban
hành các quy định về quản lý, vận hành hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, việc
thu thập, bổ sung số liệu, thông tin khách hàng;
c) Quản lý, vận hành hệ thống xếp hạng tín dụng
nội bộ;
d) Quản lý việc thực hiện việc phân loại nợ, cam
kết ngoại bảng, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro trong toàn hệ thống;
đ) Tổng hợp, báo cáo, đề xuất Hội đồng xử lý rủi
ro các nội dung thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng xử lý rủi ro theo quy
định tại Nghị định về trích lập dự phòng rủi ro;
e) Quản lý, theo dõi các đơn vị, cá nhân trong
việc thực hiện quy định tại điểm đ khoản 3 Điều 6 Thông tư này;
g) Cung cấp thông tin, phối hợp với các đơn vị
chức năng tại trụ sở chính trong việc xây dựng trình Tổng giám đốc (Giám đốc) để
trình Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên (đối với ngân hàng thương mại, tổ
chức tín dụng phi ngân hàng) hoặc trình Tổng giám đốc (Giám đốc) (đối với chi
nhánh ngân hàng nước ngoài) ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung quy định nội bộ về cấp
tín dụng, quản lý nợ của ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng;
h) Thực hiện nhiệm vụ khác theo quy định nội bộ
của ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng.
Điều 13. Báo cáo
1. Ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng phải
báo cáo kết quả phân loại nợ, cam kết ngoại bảng, trích lập, sử dụng dự phòng để
xử lý rủi ro theo quy định về chế độ báo cáo thống kê áp dụng đối với các tổ chức
tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do Ngân hàng Nhà nước ban hành.
2. Ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng có
trách nhiệm cung cấp cho CIC những thông tin theo quy định về hoạt động thông
tin tín dụng của Ngân hàng Nhà nước và theo quy định tại Thông tư này.
3. Hằng năm, ngân hàng, tổ chức tín dụng phi
ngân hàng phải báo cáo Đại hội đồng cổ đông (đối với tổ chức tín dụng cổ phần),
chủ sở hữu (đối với tổ chức tín dụng là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành
viên), thành viên góp vốn (đối với tổ chức tín dụng là công ty trách nhiệm hữu
hạn hai thành viên trở lên), ngân hàng mẹ (đối với chi nhánh ngân hàng nước
ngoài) về kết quả phân loại nợ, cam kết ngoại bảng, trích lập dự phòng rủi ro,
kết quả sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro.
Chương III
TRÁCH NHIỆM CỦA NGÂN
HÀNG NHÀ NƯỚC
Điều 14. Trách nhiệm của
Ngân hàng Nhà nước
1.[5]
Thanh tra Ngân hàng Nhà nước, Cục Quản lý, giám sát tổ chức tín dụng có trách
nhiệm:
a) Thanh tra Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm
thanh tra và xử lý vi phạm trong việc thực hiện phân loại nợ, cam kết ngoại bảng,
trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro của ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân
hàng theo thẩm quyền và theo quy định pháp luật;
b) Cục Quản lý, giám sát tổ chức tín dụng có
trách nhiệm:
(i) Tiếp nhận hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ
của ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng theo quy định tại Điều 5 và quy định
nội bộ về cấp tín dụng, quản lý nợ, chính sách dự phòng rủi ro của ngân hàng, tổ
chức tín dụng phi ngân hàng theo quy định tại Điều 7 Thông tư
này;
(ii) Giám sát và xử lý vi phạm trong việc thực
hiện phân loại nợ, cam kết ngoại bảng, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro của
ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng theo thẩm quyền và theo quy định pháp
luật;
(iii) Xử lý hồ sơ đề nghị của chi nhánh ngân
hàng nước ngoài theo phân công cho phép áp dụng chính sách dự phòng rủi ro của
ngân hàng nước ngoài và đề nghị của ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng,
chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo phân công cho phép thực hiện phân loại nợ,
cam kết ngoại bảng theo phương pháp định tính.
2.[6]
Vụ Dự báo, thống kê - Ổn định tiền tệ, tài chính đầu mối, phối hợp với các đơn
vị có liên quan trình Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành quy định về chế độ
báo cáo thống kê việc phân loại nợ, cam kết ngoại bảng, trích lập, sử dụng dự
phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân
hàng.
3. Vụ Tài chính - Kế toán căn cứ quy định tại
Thông tư này xây dựng, trình Thống đốc Ngân hàng Nhà nước văn bản hướng dẫn thực
hiện chế độ hạch toán có liên quan theo quy định của pháp luật.
4. CIC có trách nhiệm tổng hợp, cung cấp danh
sách khách hàng theo nhóm nợ có mức độ rủi ro cao nhất cho các ngân hàng, tổ chức
tín dụng phi ngân hàng theo quy định tại khoản 2 Điều 8 Thông
tư này.
5.[7]
Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực có trách nhiệm:
a) Tiếp nhận hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của
chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định tại Điều 5 và
quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý nợ, chính sách dự phòng rủi ro của chi
nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định tại Điều 7 Thông tư
này;
b) Thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm trong việc
thực hiện phân loại nợ, cam kết ngoại bảng, trích lập và sử dụng dự phòng rủi
ro của ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng trên địa bàn theo thẩm quyền
và theo quy định pháp luật;
c) Xử lý hồ sơ đề nghị của chi nhánh ngân hàng
nước ngoài theo phân công cho phép áp dụng chính sách dự phòng rủi ro của ngân
hàng nước ngoài và thực hiện phân loại nợ, cam kết ngoại bảng theo phương pháp
định tính.
Chương IV
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH[8]
Điều 15.
Quy định chuyển tiếp
1. Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã được Ngân
hàng Nhà nước chấp thuận áp dụng chính sách dự phòng rủi ro của ngân hàng nước
ngoài trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành được tiếp tục thực hiện việc
phân loại nợ theo chính sách dự phòng rủi ro của ngân hàng nước ngoài đã được
Ngân hàng Nhà nước chấp thuận, trừ trường hợp quy định tại khoản
4 Điều 2 Thông tư này.
2. Ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng đã
được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận thực hiện phân loại nợ, cam kết ngoại bảng
theo phương pháp định tính trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành được tiếp
tục thực hiện theo văn bản chấp thuận đó của Ngân hàng Nhà nước, trừ trường hợp
quy định tại khoản 7, khoản 8 Điều 11 Thông tư này.
3. Số tiền mua kỳ phiếu, tín phiếu do tổ chức
tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác phát hành trước ngày Thông tư này
có hiệu lực thi hành, ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng phân loại số tiền
mua như số tiền mua chứng chỉ tiền gửi theo quy định tại khoản
12 Điều 9 Thông tư này.
Điều 16.
Điều khoản thi hành
1. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2024.
2. Thông tư số 11/2021/TT-NHNN ngày 30 tháng 7
năm 2021 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định về phân loại tài sản có, mức
trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý
rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hết
hiệu lực thi hành kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành, trừ quy định tại
khoản 3 Điều này.
3. Việc phân loại nợ, cam kết
ngoại bảng tại kỳ phân loại tháng 7 năm 2024 cho thời điểm cuối ngày 30 tháng 6
năm 2024, ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng thực hiện theo quy định tại
Thông tư số 11/2021/TT-NHNN ngày 30 tháng 7 năm 2021 của Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự
phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức
tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Điều
17. Trách nhiệm tổ chức thực hiện[9]
Thủ trưởng các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam, ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, chi nhánh ngân
hàng nước ngoài chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư này./.
|
|
XÁC THỰC VĂN
BẢN HỢP NHẤT
KT. THỐNG ĐỐC
PHÓ THỐNG ĐỐC
Đoàn Thái Sơn
|
[1]
Thông tư số 37/2025/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số
31/2024/ TT-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về phân loại
tài sản có trong hoạt động của ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng phi ngân
hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số
46/2010/QH12;
Căn cứ Luật Các tổ chức tín dụng số
32/2024/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số
96/2025/QH15;
Căn cứ Nghị định số 26/2025/NĐ-CP của Chính
phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam;
Theo đề nghị của Cục trưởng Cục An toàn hệ thống
các tổ chức tín dụng;
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban
hành Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 31/2024/TT-NHNN ngày
30 tháng 6 năm 2024 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về phân
loại tài sản có trong hoạt động của ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng phi
ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.”
[2]
Khoản này được sửa đổi theo quy định tại Điều 1 của Thông tư số
37/2025/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 31/2024/TT-NHNN của
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về phân loại tài sản có trong hoạt
động của ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, chi nhánh ngân
hàng nước ngoài, có hiệu lực kể từ ngày 15/12/2025.
[3]
Khoản này được sửa đổi theo quy định tại Điều 2 của Thông tư số
37/2025/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 31/2024/TT-NHNN của
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về phân loại tài sản có trong hoạt
động của ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, chi nhánh ngân
hàng nước ngoài, có hiệu lực kể từ ngày 15/12/2025.
[4]
Khoản này được sửa đổi theo quy định tại Điều 3 của Thông tư số
37/2025/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 31/2024/TT-NHNN của
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về phân loại tài sản có trong hoạt
động của ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, chi nhánh ngân
hàng nước ngoài, có hiệu lực kể từ ngày 15/12/2025.
[5]
Khoản này được sửa đổi theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 của Thông tư
số 37/2025/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 31/2024/TT-NHNN
của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về phân loại tài sản có
trong hoạt động của ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, chi
nhánh ngân hàng nước ngoài, có hiệu lực kể từ ngày 15/12/2025.
[6] Khoản
này được sửa đổi theo quy định tại Khoản 2 Điều 4 của Thông tư số
37/2025/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 31/2024/TT-NHNN của
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về phân loại tài sản có trong hoạt
động của ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, chi nhánh ngân
hàng nước ngoài, có hiệu lực kể từ ngày 15/12/2025.
[7]
Khoản này được sửa đổi theo quy định tại Khoản 3 Điều 4 của Thông tư
số 37/2025/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số
31/2024/TT-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về phân loại
tài sản có trong hoạt động của ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng phi ngân
hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, có hiệu lực kể từ ngày 15/12/2025.
[8]
Điều 6 và Điều 7 của Thông tư số 37/2025/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số
điều của Thông tư số 31/2024/TT-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
quy định về phân loại tài sản có trong hoạt động của ngân hàng thương mại, tổ
chức tín dụng phi ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, có hiệu lực kể từ
ngày 15/12/2025 quy định như sau:
“Điều 6. Trách nhiệm tổ chức thực hiện
Thủ trưởng các đơn vị thuộc
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng phi ngân
hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chịu trách
nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư này.
Điều 7. Điều khoản thi hành
Thông tư này có hiệu lực thi
hành từ ngày 15 tháng
12 năm 2025./.”
[9] Điều này được sửa đổi theo quy định tại Điều 5 của Thông tư
số 37/2025/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số
31/2024/TT-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về phân loại
tài sản có trong hoạt động của ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng phi ngân
hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, có hiệu lực kể từ ngày 15/12/2025.