TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
BẢN ÁN 09/2025/HNGĐ-ST NGÀY 13/01/2025 VỀ XIN LY HÔN
Ngày 13 tháng 01 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 12/2024/TLST – HNGĐ, ngày 17/10/2024 về việc: Xin ly hôn. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXX - HNGĐ ngày 11/12/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2024/QĐST – HNGĐ ngày 27/12/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị M, sinh ngày 06/11/2002. Nơi cư trú: Bản T, xã K, huyện S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
2. Bị đơn: Nguyễn Bá P, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Bản T, xã K, huyện S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Trong đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 15/10/2024 và các tài liệu thể hiện lời khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị M trình bày: Chị và Nguyễn Bá P kết hôn vào ngày 13/01/2021 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện S, tỉnh Sơn La; Sau khi kết hôn thì vợ chồng chị về sống chung với gia đình nhà chồng và cùng nhau làm ăn kinh doanh buôn bán, nhưng ngay sau khi kết hôn thì đã bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn vì thời gian yêu đương tìm hiểu rất ngắn nên không có cơ hội hiểu về tính cách của nhau, nên sau khi kết hôn bắt đầu cuộc sống chung thì đã nảy sinh mâu thuẫn và không thể điều hòa được. Sau đó chị M đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ sống, từ đó đến nay đã sống ly thân là khoảng 03 năm. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, đời sống hôn nhân không thể duy trì được, thời gian chung sống rất ngắn và ly thân đã lâu, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Chị M viết đơn đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Nguyễn Bá P.
Quá trình chung sống thì giữa anh chị không có người con chung nào.
Về tài sản chung, về nợ chung: Chị và anh P không có nợ chung, tài sản chung không có nên không kê khai, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do bận công việc nên chị M đã có đơn đề nghị được xét xử vắng mặt tại phiên tòa.
* Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành triệu tập anh Nguyễn Bá P hợp lệ nhiều lần theo đúng quy định nhưng anh P đều không có mặt để giải quyết việc ly hôn tại Tòa án, do vậy Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh P về yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị M.
Quá trình Tòa án tiến hành xác minh tại địa phương nơi chị M và anh P cư trú cho thấy: Việc chị M và anh P xây dựng gia đình và có về chung sống một thời gian tại nhà anh P tại bản T, xã K, nhưng chỉ sau một thời gian ngắn thì chị M về sinh sống tại bản T, xã K cùng bố mẹ đẻ và anh chị ly thân đến nay là đúng. Đến nay chính quyền địa phương xác định, chị M và anh P không có con chung nào, còn về tài sản chung, nợ chung địa phương không thấy các bên có phản ánh hay đề nghị ghi nhận gì về nội dung này.
* Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu quá trình kiểm sát việc thụ lý giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Việc thụ lý xây dựng hồ sơ vụ án Tòa án huyện Sông Mã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hội đồng xét xử tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm xét xử đều thực hiện đúng quy định Bộ luật tố tụng Dân sự. Anh P đã được triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt, chị M đã có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt đối với chị M, anh P là đúng quy định pháp luật.
- Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị M, xử cho chị Nguyễn Thị M được ly hôn anh Nguyễn Bá P. Về con chung: không có. Chị Nguyễn Thị M khai không có nợ chung, tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết trong vụ án này. Chị Nguyễn Thị M phải chịu án phí xin ly hôn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và đã được xem xét thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã và nguyên đơn có mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về pháp luật tố tụng: Vụ án theo đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị M đối với anh Nguyễn Bá P đang cư trú tại huyện S, tỉnh Sơn La được Tòa án nhân dân huyện Sông Mã thụ lý và giải quyết là theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Sau khi chị M có đơn khởi kiện xin ly hôn Tòa án đã thụ lý và tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án, quyết định đưa vụ án ra xét xử cho các đương sự, chị M xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa; anh Nguyễn Bá P đã được Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ theo đúng quy định nhưng anh P đều không có mặt nên Tòa án giải quyết theo thủ tục chung và quyết định đưa vụ án ra xét xử là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M và anh Nguyễn Bá P chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã K, huyện S, tỉnh Sơn La vào ngày 13/01/2021 là đúng quy định của pháp luật. Căn cứ vào khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình xác định đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
Qua các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ và tại phiên tòa cho thấy mâu thuẫn gia đình giữa chị M và anh P đã kéo dài, cuộc sống chung không hạnh phúc và bất đồng quan điểm sống, anh chị đã sống ly thân với nhau được một thời gian dài và không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Anh Nguyễn Bá P không có mặt tại Tòa án để giải quyết việc ly hôn với chị Nguyễn Thị M thể hiện ý chí thiếu trách nhiệm, không còn quan tâm đến cuộc sống chung của gia đình và không có hành động gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét mâu thuẫn đã kéo dài, tình cảm vợ chồng và cuộc sống chung không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Việc quyết định cho chị M ly hôn anh P là có căn cứ, phù hợp với Điều 56, 57 của Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Xác định được trong quá trình chung sống chị M và anh P không có con chung nên HĐXX không đặt vấn đề giải quyết.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị M khai nhận không có nợ chung, tài sản chung không kê khai nên không yêu cầu Tòa giải quyết, anh Nguyễn Bá P không cho ý kiến gì do vậy Tòa án không giải quyết trong vụ án này. Khi nào các đương sự có yêu cầu sẽ được Tòa án giải quyết tại vụ án khác.
[5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự và các Điều 24, 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng Dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57 của Luật hôn nhân gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 24 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị M đối với anh Nguyễn Bá P:
Xử cho chị Nguyễn Thị M được ly hôn anh Nguyễn Bá P.
2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ được vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001618 ngày 17/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Chị Nguyễn Thị M đã nộp đủ tiền án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị M và anh Nguyễn Bá P được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Bản án về xin ly hôn số 09/2025/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 09/2025/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Sông Mã - Sơn La |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 13/01/2025 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về