Bản án về tranh chấp xin ly hôn và nuôi con số 71/2022/HNGĐ-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN, TỈNH BẠC LIÊU

BẢN ÁN 71/2022/HNGĐ-ST NGÀY 28/06/2022 VỀ TRANH CHẤP XIN LY HÔN VÀ NUÔI CON

Trong ngày 28 tháng 6 năm 2022 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hồng Dân mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 85/2022/TLST – HNGĐ, ngày 02 tháng 3 năm 2022 về việc tranh chấp xin ly hôn và nuôi con theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2022/QĐXXST–HNGĐ, ngày 23 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Trần Minh T, sinh năm 1988. Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.

2. Bị đơn: Chị Danh Thị H, sinh năm 1993. Địa chỉ: Ấp PT, xã NQ, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.

(Anh Trần Minh T vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; chị Danh Thị H vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Trần Minh T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2011, anh T và chị H có tổ chức đám cưới trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc và có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Điền Hải, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu vào ngày 28/02/2011.

Trong thời gian đầu, vợ chồng anh chị chung sống với nhau hạnh phúc nhưng được một thời gian thì phát sinh mâu thuẩn do vợ chồng anh chị thường xuyên cự cải bất đồng quan điểm trong cuộc sống và hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ năm 2016 cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với chị Danh Thị H.

Về quan hệ con chung: Anh T xác định trong quá trình chung sống, giữa anh và chị H có 01 người con chung là cháu Trần Thị Minh Thư, sinh ngày 06/3/2012. Hiện nay cháu Thư đang sống cùng chị H nên anh T đồng ý cho chị H tiếp tục nuôi con và anh T xin không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, anh T không có yêu cầu gì khác.

Đối với bị đơn chị Danh Thị H không cung cấp lời khai của mình cho Tòa án, Tòa án có đến nơi cư trú của chị H để lấy lời khai nhưng chị H vắng mặt. Cơ quan có thẩm quyền tại địa phương nơi cư trú của chị H xác định: Chị Danh Thị H vẫn còn đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp PT, xã NQ, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nhưng hiện tại chị H vắng mặt nơi cư trú, khi bỏ đi thì không có trình báo hay xin vắng mặt. Từ đó, Tòa án tiến hành niêm yết công khai tất cả các văn bản tố tụng của Tòa án đúng quy định pháp luật nhưng đến nay chị H vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định pháp luật.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình; Bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Trần Minh T được ly hôn với chị Danh Thị H.

2. Về quan hệ con chung: Tiếp tục giao cháu Trần Thị Minh Thư, sinh ngày 06/3/2012 cho chị H nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con nhưng anh T có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản.

3. Về quan hệ tài sản: Anh T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Ngoài ra đương sự còn phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật: anh Trần Minh T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với chị Danh Thị H và yêu cầu giải quyết về con chung nên căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án thụ lý giải quyết vụ án về “Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con” là đúng quy định.

[2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn chị Danh Thị H có nơi đăng ký thường trú tại ấp PT, xã NQ, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

[3] Nguyên đơn anh Trần Minh T tuy rằng vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt đối với anh T. Bị đơn chị Danh Thị H vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với chị Thi.

[4] Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2011, anh T và chị H có tổ chức đám cưới trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc và có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Điền Hải, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu vào ngày 28/02/2011 nên quan hệ hôn nhân giữa anh T với chị H là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình chung sống đến nay, anh T xác định chị và chị H có phát sinh nhiều mâu thuẩn, vợ chồng thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh T không thể hàn gắn với chị H được nữa. Hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ năm 2016 cho đến nay. Nay anh T nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với chị H. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành xác minh được biết giữa anh Thị và chị H có phát sinh mâu thuẩn, vợ chồng lúc sống chung thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống và hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ năm 2016 cho đến nay. Vì vậy, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho anh T được ly hôn với chị H.

[5] Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống anh T xác định trong quá trình chung sống, giữa anh và chị H có 01 người con chung là cháu Trần Thị Minh Thư, sinh ngày 06/3/2012. Hiện nay cháu Thư đang sống cùng chị H nên anh T đồng ý cho chị H tiếp tục nuôi con và anh T xin không cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Thư đang sống cùng chị H và cháu đã có cuộc sống, môi trường ăn, ở, học ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu Trần Thị Minh Thư, sinh ngày 06/3/2012 cho chị H nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con nhưng anh T có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản.

[6] Về quan hệ tài sản: Anh T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[7] Về án phí: Buộc anh T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.

Về ý kiến phát biểu việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử xét thấy việc đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ và được chấp nhận.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Minh T.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Trần Minh T được ly hôn với chị Danh Thị H.

2/ Về quan hệ con chung: Tiếp tục giao Trần Thị Minh Thư, sinh ngày 06/3/2012 cho chị H nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con nhưng anh T có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản.

3/ Về quan hệ tài sản: Anh T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

4/ Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Trần Minh T phải nộp số tiền là 300.000 đồng nhưng anh T đã dự nộp số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006182 ngày 02/3/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nay chuyển thu toàn bộ số tiền trên thành án phí.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp và cấp trên được quyền kháng nghị bản án này theo quy định pháp luật.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

140
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp xin ly hôn và nuôi con số 71/2022/HNGĐ-ST

Số hiệu:71/2022/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hồng Dân - Bạc Liêu
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 28/06/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về