Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất và lối đi số 128/2022/DS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

BẢN ÁN 128/2022/DS-PT NGÀY 13/04/2022 VỀ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ LỐI ĐI

Trong ngày 13 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 174/2021/TLPT-DS ngày 04 tháng 10 năm 2021 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất và lối đi”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 44/2021/DS - ST ngày 15 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân TPCL bị kháng cáo;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 48/2021/QĐ – PT ngày 21/02/2022 và quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 126/2022/QĐPT-DS ngày 21/3/2022 giữa các đương sự:

1-Nguyên đơn:

1/ Cù Thanh L, sinh năm 1962.

2/ Trần Thị Như L, sinh năm 1961.

Cùng địa chỉ: Tổ 38, K 4, P 6, TPCL, tỉnh Đồng Tháp.

2- Bị đơn:

2.1 Phan Văn T, sinh năm 1962.

Địa chỉ: Số nhà 246, tổ 7, ABH, xã MH, HCL,tỉnh Đồng Tháp.

2.2 Hồ Kim L, sinh năm 1981.

Địa chỉ: Tổ 7, ấp 2, Xã MT, TPCL, tỉnh Đồng Tháp.

2.3 Hồ Hoàng D, sinh năm 1960.

Địa chỉ: Tổ 34, Khóm MT, PMP, TPCL, Đồng Tháp.

3- Người có quyển lợi, nghĩa vụ L quan:

3.1 UBNDTPCL.

Ngườỉ đại diện hợp pháp của UBNDTPCL: Ông Võ Phan T M. Chức vụ: Chủ tịch. Địa chỉ: số 03, đường 30/4, Phường 1, TPCL, tỉnh Đồng Tháp.

3.2 Phạm Văn U, sinh năm 1977.

3.3 Lương Thị Đ, sinh năm 1977.

3.4 Phạm T T, sinh ngày 09/6/2003.

3.5 Phạm Thị Tuyết M, sinh ngày 27/12/2003.

3.6 Phạm Thị N Y, sinh ngày 11/7/2011.

3.7 Phạm Thị Cát T, sinh ngày 30/10/2020.

Người đại diện hợp pháp của Phạm Thành T, Phạm Thị Tuyết M, Phạm Thị N Y, Phạm Thị Cát T: Ông Phạm Văn U (cha ruột) và bà Lương Thị Đ (mẹ ruột).

Cùng địa chỉ: Tổ 8, ấp 2, xã MT, TPCL, tỉnh Đồng Tháp.

4- Người kháng cáo: Ông Cù Thanh L và bà Trần Thị Như L là nguyên đơn trong vụ án.

Ông L, bà L, bà L, ông D, ông Ú, bà Đ có mặt tại phiên tòa; ông T vắng mặt; ông M có đơn xin xét xử vắng mặt. Riêng ông L tự ý bỏ về khi chủ tọa phiên tòa thay mặt Hội đồng xét xử tuyên án.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông Cù Thanh L, bà Trần Thị Như L trình bày: Ngày 15/8/2016, ông L và bà L có nộp đơn khởi kiện về việc ông T, bà L đăng ký hồ sơ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hồ sơ do bà L yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất từ đất trồng cây lâu năm sang mục đích đất ở nông thôn đối với diện tích 173m2, tại thửa số 1753, tờ bản đồ 29. Theo quyết định số 43/QĐ.UBND.HC ngày 24/01/2013 của UBNDTPCL, hồ sơ đăng ký biến động số 29887.000182.CM.VP5 do ông Nguyễn Trường Hải ký ngày 04/11/2013. Đây là những bộ hồ sơ đăng ký ban đầu không có nguồn gốc đất và cơ quan có thẩm quyền trong quá trình tiến hành đo đạc lấn chiếm qua phần đất của ông, bà. Ông, bà là người giáp ranh không biết nên yêu cầu xác định ranh, mốc giới. Vụ án đã được Tòa án nhân dân TPCL giải quyết. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông L và bà L rU đơn khởi kiện với lý do thu thập thêm chứng cứ và sẽ khởi kiện lại vụ án nêu trên nên Hội đồng xét xử ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự nói trên.

Sau đó, ông L và bà L khởi kiện lại vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, cụ thể như sau:

- Đối với ông Phan Văn T: Ông T tiến hành làm hồ sơ đăng ký ban đầu quyền sử dụng đất không có nguồn gốc đất lối đi. Khoảng tháng 7/2012, UBNDTPCL cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T đã và đang chồng lấn chiếm diện tích của ông, bà chiều ngang 2m mặt tiền tiếp giáp bờ sông Mỹ Trà chạy dọc phía sau ngang hậu 8m đối với thửa đất của ông, bà đang sử dụng.

- Đối với bà Hồ Kim L: Bà L đã được cấp giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất vào tháng 8/2012 (ông T chuyển nhượng đất sang cho bà L). Sau đó, bà L tách 02 thửa và chuyển mục đích sử dụng từ đất trồng cây lâu năm sang đất thổ cư và bán 01 thửa cho ông Phạm Văn U và bà Lương Thị Đ.

- Đối với ông Hồ Hoàng D: Hiện nay, ông Hồ Hoàng D là cha đẻ của Hồ Kim L đang quản lý quyền sử dụng đất nêu trên, đã và đang lấn chiếm phần đất của ông, bà chiều ngang 2m chạy dọc theo hậu của phần đất của ông, bà là 8m để làm lối đi.

Nay ông T, bà L yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Hồ Hoàng D được UBNDTPCL cấp ngày 27/11/2013, tại thửa 519, tờ bản đồ 29, diện tích 173m2, đất tọa lạc tại tổ 7, ấp 2, Xã MT, TPCL;

- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Phan Văn T được cấp ngày 07/8/2013, chuyển nhượng cho bà Hồ Kim L được UBNDTPCL đăng ký vào sổ ngày 06/9/2012 và đăng ký biến động ngày 04/11/2013 tại thửa 1753, tờ bản đồ 29, diện tích 423m2, đất tọa lạc tại tổ 7, ấp 2, Xã MT, TPCL;

Trả lại cho ông, bà diện tích đất lấn chiếm 2m mặt tiền chạy dọc theo phần hậu cho ông, bà đủ diện tích ngang trước 12m, ngang sau 8m, tại thửa 2856, tờ bản đồ 29, đất tọa lạc tại tổ 7, ấp 2, Xã MT, TPCL.

Tại phiên tòa, ông L và bà L yêu cầu ông Phan Văn T, ông Hồ Hoàng D, bà Hồ Kim L trả lại cho ông, bà diện tích đất lấn chiếm 46,6m2 trong phạm vi các mốc 3, E, 8, c, B, 9, và về mốc 3, thuộc thửa 2856, tờ bản đồ 29, đất tọa lạc tại tổ 7, ấp 2, Xã MT, TPCL. RU yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ồng Phan Văn T cấp ngày 27/11/2013 tại thửa 1753, tờ bản đồ số 29, bà Hồ Kim L cấp ngày 27/11/2013 và ông Hồ Hoàng D cấp ngày 25/12/2013 tại thửa 5190, tờ bản đồ số 29. Ông L và bà L không đồng ý yêu cầu của ông D vê việc yêu cầu sử dụng lối đi.

Theo đơn khởi kiện yêu câu phản tố, quá trình giải quyêt vụ án và tại phiên tòa, ông Hồ Hoàng D trình bày:

Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của bà Hồ Kim L, là con gái của ông D nhận chuyển nhượng của ông Phan Văn T. Khi chuyển nhượng, ông T có chuyển nhượng cả phần lối đi ngang 2m dài từ lộ đến đất chuyển nhượng, phía sau có mộ của ba ông T, đất chuyển nhượng thuộc thửa 1753, tờ bản đồ số 29, diện tích 243m2, đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại ấp 2, xã Mỹ Trà. Sau đó, bà L chuyển nhượng cho ông Phạm Văn U diện tích 70m2, còn lại diện tích 173m2 bà L tặng cho ông D và ông D đã chuyển mục đích sử dụng T đất ở nông thôn diện tích 173m2, thuộc thửa 5190, tờ bản đồ số 29 tọa lạc tại ấp 2, xã Mỹ Trà, đây là đất của ông D nên ông D không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông L và bà L.

Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L và bà L, ông D yêu cầu được sử dụng lối đi ngang 2m dài 43,92m, diện tích 43,2m2 để ông D và gia đình ông U đi vào nhà. Ngoài lối đi này, ông D không còn lối đi nào khác.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà Hồ Kim L trình bày:

Bà L thống nhất lời trình bày của ông D về nguồn gốc, quá trình sử dụng phần đất đang tranh chấp. Nay bà L không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông L và bà L.

Trường họp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L và bà L, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông D về việc yêu cầu được sử dụng lối đi ngang 2m dài 43,92m để ông D và gia đình ông U đi vào nhà. Ngoài lối đi này, ông D không còn lối đi nào khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan ông Phạm Văn U và bà Lương Thị Đ đồng thời ông U, bà Đ là đại diện theo pháp luật của Phạm Thành T, Phạm Thị Tuyết M, Phạm Thị N Y, Phạm Thị Cát T trình bày: Năm 2012, bà L chuyển nhượng cho ông U và bà Đ phần đất diện tích 70m2. Sau đó, ông U và bà Đ cất nhà ở ổn định. Khi chuyển nhượng, lối đi ra lộ đã có sẵn, gia đình ông D, bà L và gia đình ông U cùng sử dụng lối đi này, không có ai tranh chấp. Đến năm 2017, ông L và bà L phát sinh tranh chấp với ông T, ông D, bà L và tranh chấp kéo dài đến nay. Nay gia đình ông U yêu cầu sử dụng tạm lối đi đang tranh chấp, nếu Tòa xử giao đất cho bên nào thì gia đình ông U sẽ thỏa thuận với người đó để được sử dụng lối đi, gia đình ông U không có tranh chấp với ông L, bà L.

Ông Phan Văn T và UBNDTPCL không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn và ông D.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 44/2021/DS-ST ngày 15/6/2021 của Tòa án nhân dân TPCL đã xử:

Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Cù Thanh L và bà Trần Thị Như L về việc yêu cầu ông Phan Văn T, ông Hồ Hoàng D, bà Hồ Kim L trả lại cho ông, bà diện tích đất lấn chiếm 43,2m2 trong phạm vi các mốc C, E, D, C2 và về mốc C.

Ông Hồ Hoàng D được sử dụng phần đất diện tích 43,2m2 trong phạm vi các mốc C, E, D, C2 và về mốc c thuộc thửa 5190, tờ bản đồ 29, tọa lạc tại tổ 7, ấp 2, Xã MT, TPCL.

Công nhận sự thỏa thuận của ông Cù Thanh L, bà Trần Thị Như L với ông Hồ Hoàng D: Ông Cù Thanh L, bà Trần Thị Như L được sử dụng diện tích 3,4m2 trong phạm vi các mốc D, 9, B, C2, E và về mốc D thuộc thửa 2856, tờ bản đồ 29, tọa lạc tại tổ 7, ấp 2, Xã MT, TPCL.

Đình chỉ xét xử sơ thẩm đối với yêu cầu của ông Cù Thanh L và bà Trần Thị Như L về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Phan Văn T cấp ngày 27/11/2013 tại thửa 1753, tờ bản đồ số 29, bà Hồ Kim L cấp ngày 27/11/2013 và ông Hồ Hoàng D cấp ngày 25/12/2013 tại thửa 5190, tờ bản đồ số 29.

(Kèm theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 25/12/2019 của Tòa án nhân dân TPCL và sơ đồ mốc, bản đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai TPCL).

Các đương sự được đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh và đăng ký giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án và phải chịu các khoản thu theo quy định pháp luật (nếu có).

Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá: Tổng số tiền là 100.000 đồng, ông L và bà L phải chịu, ông L và bà L đã tạm ứng và chi xong.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị Như L được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Cù Thanh L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0009087 ngày 10/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự TPCL, tỉnh Đồng Tháp, như vậy ông L đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra, bản án dân sự sơ thẩm còn tuyên hướng dẫn thi hành bản án và thời hạn kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 29/6/2021, ông Cù Thanh L và bà Trần Thị Như L là nguyên đơn trong vụ án kháng cáo đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 44/2021/DS-ST ngày 15 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân TPCL, tỉnh Đồng Tháp.

Ông Cù Thanh L và bà Trần Thị Như L yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết hủy hồ sơ đăng ký ban đầu của Phan Văn T ngày 09/7/2012; Hủy hồ sơ đăng ký phần đất thổ của bà Hồ Kim L, trích lục bản đồ đo đạc người giáp ranh ghi là Cù Chí L là sai; Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Hồ Hoàng D để trả lại đất cho ông L, bà L theo diện tích đã cấp ban đầu 397,9m2.

Hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 44/2021/DS-ST ngày 15/6/2021 của Tòa án nhân dân TPCL.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Ông L và bà L giữ nguyên yêu cầu kháng cáo Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu:

+ Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án và quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán thụ lý giải quyết vụ án đúng các quy định pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Hội đồng xét xử phúc thẩm đã tiến hành đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật. Các đương sự chấp hành tốt nội quy phiên tòa.

Xét kháng cáo nhận thấy, nguồn gốc đất thửa 2856 hiện ông L bà L đang sử dụng là của ông T chuyển nhượng cho ông Lê Văn Lập vào năm 2004, sau đó ông Lập chuyển nhượng lại cho ông L bà L vào năm 2008. Thửa đất 5190 ông D đang sử dụng cũng của ông T chuyển nhượng cho chị L năm 2012, sau đó chị L tặng cho cho ông D.

Ông L bà L cho rằng ông D sử dụng đất đã lấn chiếm đất của ông bà ngang mặt tiền 2m chạy dọc đến hậu đất của ông bà, qua đo đạc thực tế 46,6m2 tại các mốc 3, E, 8, C, B, 9 về 3 thuộc một phần thửa 2856 tờ bản đồ 29 do ông bà đứng tên. Tuy nhiên, căn cứ hồ sơ cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Phan Văn T vào năm 2004 tại thửa 1995, thể hiện có một cạnh giáp đất còn lại của ông T tại thửa 1753; hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông T chuyển nhượng cho ông Lập, hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Lập chuyển nhượng cho ông L và bà L đều thể hiện có một cạnh giáp đất còn lại của ông T tại thửa 1753 (thửa đất ông T chuyển nhượng cho chị L năm 2012). Năm 2012, ông T làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 1753, có một cạnh giáp đất ông Cù Thanh L. Như vậy, đất ông L bà L nhận chuyển nhượng của ông Lập có một cạnh giáp đất còn lại của ông T tại thửa 1753. Theo sơ đồ hiện trạng đất tranh chấp, thì phần đất tranh chấp (lối đi) nằm giữa đất của ông L bà L với đất của chị Lê Thị Tiên cho thấy có căn cứ xác định đất tranh chấp là của ông T tại thửa 1753 đã chuyển nhượng cho chị L, sau đó chị L tặng cho ông D điều này cũng phù hợp với lời khai của ông T là khi ông chuyển nhượng đất cho ông Lập có chừa lại lối đi ngang 02m để đi vào phần đất phía trong vì phần đất này có mộ của ông bà và người thân của ông T, sau đó ông T bốc mộ di dời nơi khác, chuyển nhượng cho chị L toàn bộ đất thửa 1753 kể cả lối đi 02m và lời khai của ông Lập là không có nhận chuyển nhượng phần đất lối đi ngang 02m của ông T, nên khi chuyển nhượng cho ông L bà L thì không có chuyển nhượng phần đất lối đi này. Nên lời trình bày của ông L bà L đất tranh chấp là của ông bà là không phù hợp, do đó yêu cầu khởi kiện của ông bà không có căn cứ chấp nhận. Do không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên không xem xét yêu cầu phản tố của ông D.

Ông L bà L kháng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm hủy hồ sơ đăng ký ban đầu của ông Phan Văn T ngày 09/7/2012. Hủy hồ sơ đăng ký phần đất thổ của bà Hồ Kim L, trích lục bản đồ đo đạc người giáp ranh ghi là Cù Chí L là sai. Hủy giấy chứng nhận QSD đất của ông Hồ Hoàng D để trả lại đất cho ông bà đã cấp ban đầu diện tích 397,9m2. Hủy toàn bộ bản án sơ thẩm số 44 ngày 15/6/2021. Xét thấy, tại cấp sơ thẩm ông bà đã rU yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông D đứng tên nên Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã đình chỉ giải quyết, đồng thời ông bà cũng không yêu cầu hủy hồ sơ đăng ký ban đầu của ông T ngày 09/7/2012, hồ sơ đăng ký phần đất thổ của chị L, do cấp sơ thẩm chưa xem xét nên cấp phúc thẩm không thể xem xét. Trong quá trình giải quyết vụ án, cấp sơ thẩm không vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, xét xử đúng quy định pháp nên không có căn cứ hủy án sơ thẩm.

Ông L bà L kháng cáo không có căn cứ nên không chấp nhận.

Bỡi các lẽ trên, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông L bà L, căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS tuyên xử: Giữ nguyên bản án số 44/2021/DS-ST ngày 15/6/2021 của Tòa án nhân dân TPCL.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về kháng cáo: Ngày 29/6/2021 ông Cù Thanh L, bà Trần Thị Như L kháng cáo là còn trong thời hạn 15 ngày theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của BLTTDS nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Xét ông Cù Thanh L và bà Trần Thị Như L yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết hủy hồ sơ đăng ký ban đầu của Phan Văn T ngày 09/7/2012; Hủy hồ sơ đăng ký phần đất thổ của bà Hồ Kim L, trích lục bản đồ đo đạc người giáp ranh ghi là Cù Chí L là sai; Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Hồ Hoàng D để trả lại đất cho ông L, bà L theo diện tích đã cấp ban đầu 397,9m2.

Hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 44/2021/DS-ST ngày 15/6/2021 của Tòa án nhân dân TPCL, Hội đồng xét xử xét thấy:

Nguồn gốc đất tranh chấp là của ông T chuyển nhượng cho ông Lập năm 2004. Năm 2008, ông Lập chuyển nhượng cho ông L và bà L, diện tích 397,9m2. Năm 2011, ông L và bà L làm thủ tục cấp đổi giấy phần đất thuộc thửa 2856 do ông L và bà L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Ông L, bà L cho rằng ông Lập đã giao đủ đất cho ông L và bà L nên ông bà không có tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Lập. Ông L và bà L cho rằng ông Phan Văn T, ông Hồ Hoàng D, bà Hồ Kim L lấn chiếm 46,6m2 đất của ông bà. Còn ông D cho rằng diện tích đất tranh chấp là của ông D.

Căn cứ vào hồ sơ cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Phan Văn T năm 2004 tại thửa 1995, thể hiện có một cạnh giáp đất còn lại của ông T tại thửa 1753; hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông T chuyển nhượng cho ông Lập, hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Lập chuyển nhượng cho ông L và bà L đều thể hiện có một cạnh giáp đất còn lại của ông T tại thửa 1753. Năm 2012, ông T làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 1753, có một cạnh giáp ông Cù Thanh L và ông L cũng có ký giáp ranh. Như vậy, xác định ông L và bà L chuyển nhượng đất của ông Lập có một cạnh giáp đất còn lại của ông T tại thửa 1753, có ký tên xác định ranh và khi ông T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông L cũng biết và có ký xác định ranh. Mặt khác, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T được cấp tại thửa 1753; bà L, ông D được cấp thửa 5190 đều có hình thể có lối đi ngang 02m dài từ đường đến đất của ông D; Đều này phù hợp với lời trình bày của ông D, bà L và ông T (chủ đất cũ). Do đó, ông L, bà L yêu cầu hủy hồ sơ đăng ký ban đầu của Phan Văn T ngày 09/7/2012; Hủy hồ sơ đăng ký phần đất thổ của bà Hồ Kim L và yêu cầu hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 44/2021/DS-ST ngày 15/6/2021 của Tòa án nhân dân TPCL là không có cơ sở nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Hồ Hoàng D để trả lại đất cho ông L, bà L theo diện tích đã cấp ban đầu 397,9m2. Xét thấy, tại phiên tòa sơ thẩm các nguyên đơn đã tự nguyện rU phần yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Hồ Hoàng D cấp ngày 25/12/2013 tại thửa 5190, tờ bản đồ số 29. Do, Tòa án cấp sơ thẩm đã đình chỉ, yêu cầu này chưa giải quyết nên Hội đồng xét xử không thể xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[3] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy Tòa án nhân dân TPCL đã xử: Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Cù Thanh L và bà Trần Thị Như L về việc yêu cầu ông Phan Văn T, ông Hồ Hoàng D, bà Hồ Kim L trả lại cho ông, bà diện tích đất lấn chiếm 43,2m2 trong phạm vi các mốc C, E, D, C2 và về mốc C là có căn cứ phù hợp với quy định pháp luật.

[4]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.

[5] Các phần còn lại của bản án dân sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Do yêu cầu kháng cáo của ông L và bà L không được chấp nhận nên ông, bà phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, ông, bà đã trên 60 tuổi nên được miễn án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 và khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên Xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Cù Thanh L và bà Trần Thị Như L.

2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 44/2021/DS-ST ngày 15/6/2021 của Tòa án nhân dân TPCL.

- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Cù Thanh L và bà Trần Thị Như L về việc yêu cầu ông Phan Văn T, ông Hồ Hoàng D, bà Hồ Kim L trả lại cho ông, bà diện tích đất lấn chiếm 43,2m2 trong phạm vi các mốc C, E, D, C2 và về mốc C.

- Ông Hồ Hoàng D được sử dụng phần đất diện tích 43,2m2 trong phạm vi các mốc C, E, D, C2 và về mốc C thuộc thửa 5190, tờ bản đồ 29, tọa lạc tại tổ 7, ấp 2, Xã MT, TPCL.

- Công nhận sự thỏa thuận Giữa ông Cù Thanh L, bà Trần Thị Như L với ông Hồ Hoàng D: Ông Cù Thanh L, bà Trần Thị Như L được sử dụng diện tích 3,4m2 trong phạm vi các mốc D, 9, B, C2, E và về mốc D thuộc thửa 2856, tờ bản đồ 29, tọa lạc tại tổ 7, ấp 2, Xã MT, TPCL.

- Đình chỉ xét xử sơ thẩm đối với yêu cầu của ông Cù Thanh L và bà Trần Thị Như L về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Phan Văn T cấp ngày 27/11/2013 tại thửa 1753, tờ bản đồ số 29, bà Hồ Kim L cấp ngày 27/11/2013 và ông Hồ Hoàng D cấp ngày 25/12/2013 tại thửa 5190, tờ bản đồ số 29.

(Kèm theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 25/12/2019 của Tòa án nhân dân TPCL và sơ đồ mốc, bản đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai TPCL).

Các đương sự được đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh và đăng ký giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án và phải chịu các khoản thu theo quy định pháp luật (nếu có).

- Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá: Tổng số tiền là 100.000 đồng, ông L và bà L phải chịu, ông L và bà L đã tạm ứng và chi xong.

- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị Như L được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Cù Thanh L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, được Khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009087 ngày 10/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự TPCL, tỉnh Đồng Tháp.

3. Án phí dân sự phúc thẩm Ông Cù Thanh L, bà Trần Thị Như L được miễn án phí dân sự phúc Thẩm. Hoàn trả cho ông Cù Thanh L 300.000đồng tiền tạm ứng án phí kháng cáo đã nộp theo biên lai thu số 0017363 ngày 07/7/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự TPCL.

4. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

261
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất và lối đi số 128/2022/DS-PT

Số hiệu:128/2022/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Đồng Tháp
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 13/04/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về