Bản án về tranh chấp phát sinh từ hợp đồng cung ứng dịch vụ số 03/2024/KDTM-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N, THÀNH PHỐ H

BẢN ÁN 03/2024/KDTM-ST NGÀY 17/01/2024 VỀ TRANH CHẤP PHÁT SINH TỪ HỢP ĐỒNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ

Trong ngày 17/01/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận N, thành phố H, mở phiên tòa công khai, xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 93/2023/TLST-KDTM ngày 11/12/2023, về việc “Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng cung ứng dịch vụ”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2023/QĐST-KDTM ngày 04/01/2024 giữa:

Nguyên đơn: Công ty TNHH P (viết tắt: Công ty P).

Địa chỉ: Đ, thôn H, xã Đ, huyện M, Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Khắc T - Giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Văn phòng L

Người được ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Phan Duy N. (Có mặt)

Bị đơn: Công ty Cổ phần X (viết tắt: Công ty X).

Địa chỉ: Tầng M, Tòa nhà S, ngõ I đường Đ, phường Đ, quận N, Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Anh T1 - Giám đốc - Xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Công ty X và Công ty P có ký kết với nhau Hợp đồng thuê thiết bị số: 2212/2017/HĐTB ngày 22/12/2017 về việc thuê 01 vận thăng lồng đôi SC200/200 để phục vụ thi công dự án Nhà ở chung cư cao tầng kết hợp thương mại dịch vụ và nhà trẻ tại ngõ I, phường Đ, quận N, thành phố Hà Nội. Tổng giá trị Hợp đồng đã bao gồm VAT là 234.300.000đ. Trong đó bao gồm các khoản: Chi phí thuê vận thăng, chi phí vận chuyển, lắp đặt, tháo hạ, phí bảo trì, bảo dưỡng và nhân công. Sau khi vận thăng được bàn giao và đưa vào sử dụng, việc thanh toán được thực hiện theo quy định tại Hợp đồng. Tính đến ngày 15/5/2019, số dư nợ tiền thuê vận thăng Công ty X còn phải thanh toán cho Công ty P là 140.263.025đ.

Cũng trong giai đoạn thực hiện Hợp đồng thuê thiết bị số 2212/2017/HĐ/TB nêu trên, ngày 25/12/2018, hai bên tiếp tục ký Hợp đồng kinh tế số: 2512/2018/HĐKT/TL về việc Công ty P cung cấp cho Công ty X dịch vụ tháo hạ, vận chuyển 01 cần trục tháp Modal TCT 5512 chiều cao 110m tại công trình. Giá trị Hợp đồng là 65.000.000đ. Công ty P đã hoàn thành nội dung theo Hợp đồng, nhưng Công ty X chưa thanh toán số tiền thuê.

Tại biên bản xác nhận công nợ ký ngày 31/12/2019 và ngày 24/9/2021 giữa đại diện công ty P và Công ty X, các bên đã đối chiếu công nợ và xác nhận: Tổng số công nợ phát sinh từ 02 Hợp đồng trên là 205.263.025đ. Số tiền Công ty X đã thanh toán theo ủy nhiệm chi ngày 18/6/2019 và 20/9/2019 là 40.000.000đ. Số nợ còn phải thanh toán là 165.263.025đ. Sau khi đối chiếu và chốt công nợ cho đến nay, Công ty X vẫn chưa thanh toán cho Công ty P được đồng nào.

Nay Công ty P yêu cầu Công ty X phải trả số tiền 165.263.025đ và tiền lãi chậm trả tính từ ngày 24/09/2021 (ngày hai bên xác nhận công nợ) đến ngày 11/12/2023 (ngày ra thông báo thụ lý) là (807 ngày), Căn cứ vào Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 và Điều 11 Nghị quyết số 01/2019/NQ - HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm tôi đề nghị lãi là 12%/năm tương đương 0,0328%/ngày là: 43.744.461đ. Tổng cộng cả số tiền phải trả và lãi chậm trả là: 209.007.486đ.

Đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: Công ty X và Công ty P có ký kết với nhau Hợp đồng thuê thiết bị số: 2212/2017/HĐTB ngày 22/12/2017; Hợp đồng kinh tế số: 2512/2018/HĐKT/TL ngày 25/12/2018 là đúng. Hai bên đã lập biên bản xác nhận công nợ và Công ty X xác nhận số tiền còn nợ gốc theo 02 hợp đồng là: 165.263.025 đồng. Công ty X cũng xác nhận về số tiền nợ lãi chậm trả. Tuy nhiên, vì hiện nay Công ty X làm ăn rất khó khăn nên Công ty X đề nghị Công ty P cho miễn toàn bộ tiền lãi chậm thanh toán.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn toàn bộ số tiền nợ gốc, lãi chậm thanh toán các Hợp đồng đã ký kết số tiền tính đến ngày xét xử là 244.847.358đ. Trong đó tiền nợ gốc 165.263.025đ ; Tiền lãi chậm trả tạm tính từ ngày 18/6/2019 đến 17/01/2024 là: 79.584.334đ (mức lãi suất 10.5%/ năm);

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, các tài liệu chứng cứ do các bên đương sự cung cấp cùng các tài liệu, chứng cứ do Tòa án xác minh thu thập được xác định đây là vụ án kinh doanh thương mại phát sinh từ Hợp đồng thuê tài sản. Bị đơn có trụ sở hoạt động tại ngõ I Đ, phường Đ, N, Hà Nội. Do vậy, việc Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định của BLTTDS.

Bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, HĐXX căn cứ Điều 227, 228 BLTTDS xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung: Công ty X và Công ty P có ký kết với nhau Hợp đồng thuê thiết bị số: 2212/2017/HĐTB ngày 22/12/2017 về việc thuê 01 vận thăng lồng đôi SC200/200 để phục vụ thi công dự án Nhà ở chung cư cao tầng kết hợp thương mại dịch vụ và nhà trẻ tại ngõ I, phường Đ, quận N, thành phố Hà Nội. Ngày 25/12/2018, H bên tiếp tục ký Hợp đồng kinh tế số: 2512/2018/HĐKT/TL về việc Công ty P cung cấp cho Công ty X dịch vụ tháo hạ, vận chuyển 01 cần trục tháp Modal TCT 5512 chiều cao 110m tại công trình Nhà ở chung cư cao tầng kết hợp thương mại dịch vụ và nhà trẻ tại ngõ I phường Đ, quận N, thành phố Hà Nội.

Việc ký kết hợp đồng là tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật, các bên đã thực hiện đầy đủ theo các điều khoản trong Hợp đồng. Đến nay, hai bên không ai có ý kiến hay tranh chấp gì nên Hợp đồng có hiệu lực pháp luật. Quá trình thực hiện, hai bên đã đối chiếu công nợ và xác nhận nợ, theo đó Công ty X còn nợ Công ty An toàn số tiền còn phải trả của 02 Hợp đồng là 165.263.025đ và lãi chậm trả Công ty P yêu cầu 10% trên số tiền chưa trả tính đến ngày xét xử là 79.584.334đ. Bị đơn thừa nhận số tiền còn phải trả, nhất trí với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhưng do khó khăn nên chưa thanh toán đúng hạn cho nguyên đơn, đề nghị nguyên đơn miễn khoản tiền lãi chậm trả. Như vậy, việc khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ được chấp nhận.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí KDTMST theo quy định, trả lại nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 30, 35, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự ; Điều 357, 513, 514, 515, 516, 517, 518, 519 Bộ luật dân sự; Điều 24, 50, 55, 306 Luật thương mại; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH P đối với Công ty cổ phần X.

Buộc Công ty cổ phần X phải trả cho Công ty TNHH P tổng số tiền 244.847.358đ. Trong đó, tiền nợ gốc là 165.263.025đ; Tiền lãi chậm trả là: 79.584.334đ.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật người được thi hành có đơn yêu cầu thi hành án, các bên không thoả thuận được lãi suất thì người phải thi hành án phải chịu lãi suất theo khoản 2 Điều 468 BLDS tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự;

Về án phí: Công ty Cổ phần X phải nộp 12.242.368đ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Trả lại và Công ty TNHH P 6.133.142đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009195 ngày 11/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận N, thành phố H

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

66
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp phát sinh từ hợp đồng cung ứng dịch vụ số 03/2024/KDTM-ST

Số hiệu:03/2024/KDTM-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hương Sơn - Hà Tĩnh
Lĩnh vực:Kinh tế
Ngày ban hành: 17/01/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về