TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HIỆP, TỈNH KIÊN GIANG
BẢN ÁN 84/2024/HNGĐ-ST NGÀY 25/12/2024 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN
Trong ngày 25 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 263/2024/TLST- HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024 về việc “ Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 56/2024/QĐST- HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Danh Thị Kim A, sinh năm 1993 (Có mặt) Địa chỉ: Ấp Đ , xã , huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang Bị đơn: Anh Phạm Công L, sinh năm 1991 (Vắng mặt) Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 12/8/2024 và các lời khai có trong hồ sơ vụ án chị Danh Thị Kim A trình bày:
Chị Kim A và anh Phạm Công L chung sống với nhau vào tháng 3/2020, có đăng ký kết hôn trễ hạn tại UBND xã T vào ngày 04/3/2022 trước khi chung sống vợ chồng có tìm hiểu nhau trước 1 năm mới tiến tới hôn nhân, hôn nhân tự nguyện không cưỡng ép.
Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc cho đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hiểu nhau có nhiều quan điểm bất đồng, không tìm được tiếng nói chung nên đời sống chung không thấy hạnh phúc.
Nay chị Kim A xét thấy tình cảm vợ chồng không thể chung sống với nhau được nữa cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đã ly thân từ tháng 01 năm 2024 cho đến nay.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Phạm Kim Á, sinh ngày 10/5/2020. Hiện nay cháu Á đang sống với chị Kim A.
- Về tài sản chung: Quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung.
- Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ chung.
Tại phiên tòa chị Kim A vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện - Về quan hệ hôn nhân: Chị Kim A yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Công L.
- Về con chung: Chị Kim A yêu cầu được nuôi con tên Phạm Kim Á, sinh ngày 10/5/2020, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản và nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt, hợp lệ giấy triệu tập cho anh Phạm Công L tham gia phiên họp kiểm tra việc, giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và triệu tập tham gia phiên tòa, nhưng anh Phạm Công L đều không có mặt và không có lời trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là tranh chấp ly hôn, bị đơn anh Phạm Công L đang cư trú tại ấp T, xã T, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự .
[2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh Phạm Công L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Phạm Công L.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Xét mối quan hệ hôn nhân giữa chị Danh Thị Kim A và anh Phạm Công L được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn trễ hạn tại UBND xã Thạnh Trị, huyện Tân Hiệp ngày 04/3/2022, số 27 là phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
[3.1] Xét yêu cầu xin được ly hôn của chị Danh Thị Kim A Hội đồng xét xử xét thấy: Sau khi kết hôn chị Kim A và anh L chung sống hạnh phúc, đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hiểu nhau có nhiều quan điểm bất đồng, không tìm được tiếng nói chung nên đời sống chung không thấy hạnh phúc. Mặc dù chị Kim A và anh L đã nhiều lần được gia đình hai bên động viên hoà giải nhưng giữa anh L và chị Kim A vẫn không thể hàn gắn được.
Nay, chị Kim A xét thấy tình cảm vợ chồng không thể chung sống với nhau được nữa, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đã ly thân từ tháng 01 năm 2024 cho đến nay. Trong thời gian ly thân không ai quan tâm đến ai, không chăm sóc, giúp đỡ nhau điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hiện được tình nghiã vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân gia đình “ Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau;…. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau,
[3.2] Đối với anh Phạm Công L Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ thủ tục tố tụng cho anh L tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để Tòa án động viên anh L và chị A quay về đoàn tụ tiếp tục cuộc sống hôn nhân và nuôi dạy con chung nhưng anh L đều vắng mặt không có lý do và không có văn bản gửi cho Tòa án về ý kiến và yêu cầu của mình. Đều này chứng tỏ anh L bỏ mặc không quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân giữa anh và chị Kim A nữa. Do đó, căn cứ khoản 2, khoản 4, Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vụ án theo chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Danh Thị Kim A.
[4] Về con chung: Chị Kim A xác nhận vợ chồng có 01 con chung tên Phạm Kim Á, sinh ngày 10/5/2020. Từ ngày vợ chồng ly thân cho đến nay cháu Á vẫn được chị Kim A trực tiếp nuôi dưỡng và phát triển tốt cả về thể chất lẫn tinh thần. Hơn nữa hiện nay cháu Á vẫn còn nhỏ và là con gái nên cần sự quan tâm chăm sóc của người mẹ. Từ những nội dung nêu trên Hội đồng xét xử thống nhất tiếp tục giao cháu Phạm Kim Á, sinh ngày 10/5/2020 cho chị Danh Thị Kim A trực tiếp, trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng. Chị A không yêu cầu anh Phạm Công L cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, đồng thời anh L không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Các đương sự có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Danh Thị Kim A phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm.
[7] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 khoản 4 Điều 147 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào Điều 56,81,82,83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Danh Thị Kim A.
2. Về quan hệ hôn nhân: Chị Danh Thị Kim A được ly hôn với anh Phạm Công L.
3. Về con chung: Tiếp tục giao cháu Phạm Kim Á, sinh ngày 10/5/2020 cho chị Danh Thị Kim A trực tiếp, trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng. Anh Phạm Công L không cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, đồng thời anh L không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Các đương sự có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
4. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Danh Thị Kim A phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0007034 ngày 09/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang. Chị Danh Thị Kim A đã nộp đủ.
6. Quyền kháng cáo: Chị Danh Thị Kim A có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Công L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án về tranh chấp ly hôn số 84/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 84/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Tân Hiệp - Kiên Giang |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 25/12/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về