Bản án về tranh chấp ly hôn số 264/2022/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 264/2022/HNGĐ-ST NGÀY 22/06/2022 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN 

Trong ngày 22 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2022/TLST- HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2022 về việc: “Tranh chấp L hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 502/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 5 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 581/2022/QĐST- HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Sao L, sinh năm 1985 – Có mặt Bị đơn: Ông Trần Hữu T, sinh năm 1988 – Vắng mặt Cùng địa chỉ: A, Ấp 1, xã Phước Lộc, huyện Nhà Bè, Tp. Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, bà Trần Thị Sao L là nguyên đơn trình bày:

Bà Trần Thị Sao L và ông Trần Hữu T sống chung với nhau từ năm 2015.

Hai bên có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 102/2015 quyển số 01/2015 do Uỷ ban nhân dân thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định cấp ngày 12/8/2015. Từ khi kết hôn, Bà L và ông T sinh sống tại nhà số 50A, Ấp 1, xã Phước Lộc, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng cũng hạnh phúc được một vài năm nhưng kể từ năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, ông T lại thiếu trách nhiệm với vợ con, không lo chăm sóc gia đình, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã .

Nay, bà L xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà L được ly hôn ông T để ổn định cuộc sống.Hiện nay bà L làm thợ may, thu nhập khoảng 8.000.000 đồng mỗi tháng Về con chung: Bà L và ông T có 01 con chung là trẻ Trần Hữu Công V, sinh ngày 06/5/2016 (Nam). Hiện nay đang do bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà L yêu cầu được tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Bà L không yêu cầu ông T cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Bà L không yêu cầu giải quyết. Về nợ chung: Bà L xác định không có.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng của Tòa án để ông Trần Hữu T là bị đơn đến Tòa án làm việc và tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm nhưng ông T vẫn không có mặt mà không có lý do chính đáng.

* Phát biểu của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi Hội đồng xét vào nghị án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc xét xử vắng mặt đương sự đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 102/2015, quyển số 01/2015 do Uỷ ban nhân dân thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định cấp ngày 12/8/2015 thì bà Trần Thị Sao L và ông Trần Hữu T có quan hệ hôn nhân hợp pháp. Bà L xin ly hôn ông Trần Hữu T. Ông T có nơi cư trú tại huyện Nhà Bè, do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong vụ án này, ông Trần Hữu T là bị đơn mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng để tiếp cận công khai thu thập chứng cứ và hòa giải cũng như tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm nhưng ông T vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông T theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về các yêu cầu của đương sự:

[2.1] Theo lời trình bày của nguyên đơn thì kể từ năm 2016 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do ông T thiếu trách nhiệm với vợ con, gia đình. Ông T không phụ bà L chăm sóc, nuôi dưỡng con chung dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã không hòa giải được.

Theo kết quả xác minh của Hội liên hiệp phụ nữ xã Phước Lộc, huyện Nhà Bè thì Hội liên hiệp phụ nữ xã xã Phước Lộc không nhận được đơn trình báo và không giải quyết vụ việc gì liên quan đến vợ chồng bà Trần Thị Sao L và ông Trần Hữu T.

Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”.

Hội đồng xét xử xét:

Mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Trần Thị Sao L và ông Trần Hữu T đã trầm trọng, kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu có duy trì cuộc hôn nhân này thì cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai bên. Hơn nữa, ông T mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa làm việc chứng tỏ ông T cũng không còn thiết tha gì đến cuộc hôn nhân này nữa. Do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Trần Thị Sao L ly hôn ông Trần Hữu T là hoàn T phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung: Bà L yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi con.

Hội đồng xét xử xét:

Bà Trần Thị Sao L và ông Trần Hữu T có 01 con chung là trẻ Trần Hữu Công V, sinh ngày 06/5/2016 (Nam). Hiện nay con chung đang do bà L trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Trần Hữu T lại không đến tòa án để giải quyết. Do vậy, để đảm bảo sự phát triển bình thường quyền lợi hợp pháp của trẻ em, Hội đồng xét xử giao con chung cho bà L tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

[2.3] Về việc cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận việc bà L không yêu cầu ông T cấp dưỡng.

[2.4] Về tài sản chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết trong vụ kiện dân sự khác.

[2.5] Về nợ chung: Bà L xác định không có.

[3] Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng do bà L phải nộp, được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí mà bà L đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0037384 ngày 04 tháng 01 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vì các lẽ trên,

 QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117, 118 và Điều 119 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào Luật trẻ em;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016;

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận T bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Sao L được ly hôn ông Trần Hữu T.

- Về con chung: Giao con chung là trẻ Trần Hữu Công V, sinh ngày 06/5/2016 (Nam) cho bà Trần Thị Sao L tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

- Về việc cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận việc bà L không yêu cầu ông T cấp dưỡng.

Bà Trần Thị Sao L có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi khi ông Trần Hữu T đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì quyền lợi của con khi cần thiết, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này các đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết trong vụ kiện dân sự khác.

Về nợ chung: Bà L xác định không có.

2/ Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) do bà L phải nộp, được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí mà bà L đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0037384 ngày 04 tháng 01 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

3/ Về quyền kháng cáo: Bà Trần Thị Sao L được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Trần Hữu T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

202
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp ly hôn số 264/2022/HNGĐ-ST

Số hiệu:264/2022/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nhà Bè - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 22/06/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về