Bản án về tranh chấp ly hôn, con chung số 77/2021/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH

BẢN ÁN 77/2021/HNGĐ-ST NGÀY 29/09/2021 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, CON CHUNG

Ngày 29 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 274/2021/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2021 về “Tranh chấp ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2021/QĐST- HNGĐ ngày 01 tháng 9 năm 2021; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Huỳnh H, sinh năm 1988 (vắng mặt);

Đa chỉ: Ấp TNB, xã M, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

- Bị đơn: Anh Trang Duy T, sinh năm 1988 (vắng mặt);

Đa chỉ: Ấp TNB, xã M, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Chi Phạm Thị Huỳnh H là nguyên đơn trình bày và yêu cầu: Chị và anh Trang Duy T quen biết tìm hiểu nhau và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Mỹ Chánh, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh cấp giấy chứng nhận ngày 31/12/2009. Thời gian đầu chị và anh T chung sống với nhau hạnh phúc, nhưng đến năm 2018 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cải vả. Vì vậy lâu dần tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị và anh T đã sống ly thân đó cho đến nay.

- Về con chung: Chị Phạm Thị Huỳnh H và anh T có 01 con chung tên là Trang Hoàng Thảo M, sinh ngày 22/9/2010, hiện đang sống với chị H.

- Về nợ chung và tài sản chung: Không có.

Nay chị H yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

- Về hôn nhân: Yêu cầu ly hôn với anh Trang Duy T.

- Về con chung: Chị H yêu cầu được nuôi con chung tên là Trang Hoàng Thảo M, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đi với anh Trang Duy T là bị đơn đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ nhưng vắng mặt đến lần thứ 2 nên Tòa án lập biên bản không tiến hành hòa giải được và quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa hôm nay, chị Phạm Thị Huỳnh H và anh Trang Duy T đều vắng mặt, nhưng chị H và anh T đều có đơn quyết yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Chị H giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh T; yêu cầu được nuôi con chung.

Đi với anh Trang Duy T là bị đơn đã được Tòa án tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử hợp lệ nhưng vắng mặt đến lần thứ 2 nên Hội đồng xét xử quyết xét xử vắng mặt anh T.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự tại phiên tòa cho rằng việc Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh thụ lý vụ án “Tranh chấp về ly hôn, con chung” là đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đảm bảo đúng quy định. Về đưa người tham gia tố tụng, Tòa án đã đưa đầy đủ trong hòa giải cũng như phiên tòa hôm nay nên việc xét xử đúng pháp luật.

Về nội dung: Vị đại diện Viện kiểm sát đã phân tích nội dung vụ án, đánh giá chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở đơn khởi kiện, lời khai, lời trình bày của nguyên đơn, chứng cứ do Tòa án xác minh thì mâu thuẫn giữa chị H và anh T là trầm trọng, chị H, anh T không còn quan tâm, thương yêu chăm sóc lẫn nhau nên yêu cầu ly hôn của chị Hoa là có căn cứ.

Về con chung, cháu Trang Hoàng Thảo M hiện đang sống với chị H; cháu My là con gái và nguyên vọng của cháu được sống với chị H. Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 147, Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 55, 58 Luật hôn nhân và gia đình. Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

- Về hôn nhân: Đề nghị cho chị Phạm Thị Huỳnh H được ly hôn với anh Trang Duy T;

- Về con chung: Giao cháu Trang Hoàng Thảo M cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng;

- Về tài sản chung, nợ chung không có không yêu cầu nên không xem xét;

- Về án phí: Chị Phạm Thị Huỳnh H phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về quan hệ pháp luật và Thẩm quyền giải quyết: Quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp ly hôn, con chung”. Bị đơn anh Trang Duy T cư trú tại ấp TNB, xã M, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Sau khi thụ lý, Tòa án đã ra thông báo về việc thụ lý vụ án và tiến hành tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định tại Điều 196, 208, 209, 210 và Điều 211 của Bộ luật Tố tụng dân sự được Viện kiểm sát nhận định đúng quy định.

Tại phiên tòa chị H, anh T vắng mặt, nhưng chị H có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị H và anh Trang Duy T.

[2] Về hôn nhân: Chị Phạm Thị Huỳnh H và anh Trang Duy T tổ chức cưới nhau vào năm 2009, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Mỹ Chánh, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 31/12/2009, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận. Trong quá trình chung sống theo chị H giữa chị với anh T thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng không dàn xếp được, từ đó tình cảm vợ chồng không còn, anh T với chị đã sống ly thân với nhau từ năm 2018 đến nay, không thể hàn gắn được nữa nên chị H làm đơn yêu cầu được ly hôn với anh T.

Xét đơn khởi kiện của chị Phạm Thị Huỳnh H về yêu cầu được ly hôn với anh Trang Duy T, yêu cầu được nuôi con chung là cháu Trang Hoàng Thảo M cũng như quan điểm của Viện kiểm sát tại phiên tòa; Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ để chấp nhận.

Vì sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh đã tống đạt đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn của chị H và các chứng cứ kèm theo cho anh T; thông báo việc thụ lý vụ án và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải gửi cho anh T. Mặc dù biết được việc chị H làm đơn yêu cầu ly hôn và được Tòa án thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải nhưng anh T không đến, không tạo điều kiện gặp chị H để hàn gắn đoàn tụ. Khoản 1 Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Nhưng đối với anh T không quan tâm đến hạnh phúc gia đình, không đến gặp chị H để bày tỏ, giải quyết mâu thuẫn, bất đồng nhằm hàn gắn, đoàn tụ với chị H. Tại biên bản tiếp xúc với bà Ngô Thị Thu L (là mẹ ruột của anh T), bà L trình bày bà có nghe anh T nói về việc chị H làm đơn ly hôn và cũng thống nhất ly hôn với chị H, cháu M là con gái nên sống với mẹ là chị H tốt hơn. Bà Loan cũng trình bày thêm sau ngày cưới chị H, anh T sống chung với bà nên không có tài sản chung, không có nợ chung (bút lục số 20). Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, cho chị H được ly hôn với anh T.

[3] Về con chung: Cháu Trang Hoàng Thảo M là con chung của chị H và anh T, chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu M. Cháu M có ý kiến nếu chị H và anh T ly hôn cháu muốn sống với mẹ và bản thân anh T không có ý kiến phản đối cũng như yêu cầu nuôi dưỡng cháu M, nghĩ nên giao cháu M cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng sau khi ly hôn với anh T.

[4]. Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Phạm Thị Huỳnh H trình bày không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Chị Phạm Thị Huỳnh H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 5; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ các Điều 51, 53, 54, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và Gia đình; áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Huỳnh H.

1. Về hôn nhân: Chị Phạm Thị Huỳnh H được ly hôn với anh Trang Duy T.

2. Về con chung: Giao cháu Trang Hoàng Thảo M, sinh ngày 22/9/2010, hiện đang sống với chị H cho chị Phạm Thị Huỳnh H được trực tiếp nuôi dưỡng cháu M. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị Phạm Thị Huỳnh H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.

4. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Hoa và anh T trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí: Chị Phạm Thị Huỳnh H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004637 ngày 25 tháng 01 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

82
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp ly hôn, con chung số 77/2021/HNGĐ-ST

Số hiệu:77/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Trà Vinh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 29/09/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về