Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 294/2020/DSST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 294/2020/DSST NGÀY 04/03/2020 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Trong ngày 04 tháng 3 năm 2020, tại phòng xử án Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1033/DSST ngày 13 tháng 12 năm 2018, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 366/2020/QĐ-ST ngày 05 tháng 02 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn TA. (có mặt) Địa chỉ: 87 Đường DB, Phường HL, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn HN – Chủ doanh nghiệp tư nhân thương mại Thiết kế Bao bì TA1. (vắng mặt) Địa chỉ 1:17 Đường MT, khu phố B, phường BA, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ 2: 107D Pl, phường AP, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị TQ. Địa chỉ: L2/274 BR, Ale, Sd 2015.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ TT. (xin vắng mặt) Địa chỉ: 1607 tòa nhà N2D, khu đô thị TH – NC, phường NC, quận TX, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – bà Nguyễn TA trình bày:

Bà Nguyễn HN - Chủ doanh nghiệp tư nhân thương mại Thiết kế Bao bì TA1 có vay của bà số tiền nợ gốc là 474.600.000 đồng; 23,3 lượng vàng SJC; 7.000 Euro và 14.300 USD, quy đổi ra tiền Việt tổng cộng là 1.804.931.000 đồng. Tòa án nhân dân Quận 2 ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 102/2013/QĐST-DS ngày 17/12/2013, bà HN phải trả lại cho bà số tiền là 1.804.931.000 đồng.

Ngày 24/3/2017, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định Giám đốc thẩm hủy Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 102/2013/QĐST-DS ngày 17/12/2013 của Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh. Nay bà TA tiếp tục yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn HN – Chủ Doanh nghiệp Tư nhân Thương mại Thiết kế Bao bì TA1 có trách nhiệm trả cho bà số tiền nợ gốc là 474.600.000 đồng; 23,3 lượng vàng SJC; 7.000 Euro và 14.300 USD, quy đổi ra tiền Việt theo thời giá hiện nay. Tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 11/2013/QĐ – BPKCTT ngày 22/10/2013 của Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn – bà Nguyễn HN - Chủ doanh nghiệp tư nhân thương mại Thiết kế Bao bì TA1 trình bày tại Bản tự khai ngày 04/11/2013, Biên bản hòa giải ngày 09/12/2013, Biên bản làm việc ngày 06/4/2018: Bà xác nhận còn nợ bà TA số tiền nợ gốc là 474.600.000 đồng; 23,3 lượng vàng SJC; 7.000 Euro và 14.300 USD. Tuy nhiên, hiện nay bà có khó khăn về kinh tế nên chưa có khả năng trả. Bà đồng ý trả cho bà TA số tiền nói trên ngay khi lấy được tiền bán căn hộ AC2- 12 MK 3, lô H11-2, phường TP, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh từ bà Trần Thị TQ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Trần Thị TQ có ông Đỗ TT trình bày trong Biên bản làm việc ngày 06/4/2018 và Đơn đề nghị hủy bỏ Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đề ngày 28/6/2019:

Ngày 14/3/2012, bà TQ và bà Nguyễn HN có ký Hợp đồng đặt cọc mua bán căn hộ AC2-12 MK 3, lô H11-23, phường TP, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh với giá 5.400.000.000 đồng. Ngay khi ký hợp đồng đặt cọc, bà TQ đã trả cho bà HN số tiền là 540.000.000 đồng. Ngày 20/4/2012, hai bên tiếp tục ký Phụ lục hợp đồng đặt cọc, theo đó, ngày 20/4/2012 bà TQ (do bà Ôn Thị MP) đã chuyển trả cho bà HN vào tài khoản của DNTN Thương mại Thiết kế Bao bì TA1 số tiền là 2.200.000.000 đồng. Ngày 21/4/2012, bà TQ trả tiếp cho bà HN số tiền 179.160.000 đồng bao gồm trả thanh lý tiền hợp đồng thuê nhà là 125.160.000 đồng, tiền môi giới là 54.000.000 đồng. Ngày 25/4/2012, bà TQ thanh toán cho bà HN tiếp số tiền (trả thông qua tài khoản ngân hàng) là 1.680.000.000 đồng. Bà TQ đưa bà S nộp thuế 73.985.500 đồng, thanh toán qua tài khoản tiếp số tiền là 325.071.500 đồng và tiền đưa bà S đi nộp kho bạc là 37.000.000 đồng. Tổng cộng bà TQ đã trả cho bà HN số tiền là 4.998.254.000 đồng. Nay bà TQ yêu cầu bà HN tiếp tục thực hiện hợp đồng mua bán và bà TQ sẽ trả cho bà HN số tiền còn lại là 400.000.000 đồng sau khi hoàn tất thủ tục mua bán. Gia đình bà TQ đã nhận nhà, sinh sống ở căn hộ AC12-12 và đăng ký tạm trú ở đây vào ngày 19/3/2013. Căn hộ này không phải là tài sản tranh chấp trong vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa bà Nguyễn TA và bà Nguyễn HN. Đề nghị hủy Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 11/2013/QĐ – BPKCTT ngày 22/10/2013 của Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Nguyên đơn – bà Nguyễn TA vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn – bà Nguyễn HN - Chủ doanh nghiệp tư nhân thương mại Thiết kế Bao bì TA1 đã được Tòa án tống đạt triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Trần Thị TQ có ông Đỗ TT là đại diện theo ủy quyền có đơn xin vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến kết luận:

Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến diễn biến phiên tòa sơ thẩm, các đương sự được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và sau khi nghe ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:

Nguyên đơn – bà Nguyễn TA có cho bị đơn vay số tiền nợ gốc là 474.600.000 đồng; 23,3 lượng vàng SJC; 7.000 Euro và 14.300 USD. Việc vay mượn này đã được bị đơn thừa nhận tại các buổi hòa giải tại Tòa án, nhưng hiện nay bị đơn khó khăn về kinh tế nên chưa có khả năng trả.

Bị đơn – bà Nguyễn HN - Chủ doanh nghiệp tư nhân thương mại Thiết kế Bao bì TA1 đã được Tòa án tống đạt triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải cũng như tại phiên tòa, tuy nhiên căn cứ vào Bản tự khai ngày 04/11/2013, Biên bản hòa giải ngày 09/12/2013, Biên bản làm việc ngày 06/4/2018 có đủ cơ sở để kết luận bị đơn có vay của bà TA số tiền, vàng như nguyên đơn trình bày, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn có trách nhiệm trả lại cho nguyên đơn số tiền nợ gốc là 474.600.000 đồng; 23,3 lượng vàng SJC tương đương 1.069.470.000 đồng; 7.000 Euro tương đương 177.450.350 đồng và 14.300 USD tương đương 330.616.000 đồng (quy đổi ra tiền Việt Nam tại thời điểm xét xử theo tỷ giá của Ngân hàng thương mại cổ phần NTVN) tổng cộng là 2.052.136.350 đồng.

Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã ra Quyết định hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời số 345/2019/QĐ-BPKCTT ngày 19/9/2019 và Thông báo sửa chữa quyết định số 506/TB-TA ngày 01/10/2019 hủy bỏ Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 11/2013/QĐ – BPKCTT ngày 22/10/2013 và Thông báo sửa chữa quyết định số 11/TB-TA ngày 24/12/2013 của Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn – bà Nguyễn HN - Chủ doanh nghiệp tư nhân thương mại Thiết kế Bao bì TA1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 73.042.727 đồng.

Hoàn lại tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 20.500.000 đồng cho bà Nguyễn TA theo biên lai thu số 03361 ngày 16/7/2013 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Do bà Nguyễn TA đã nhận lại 7.426.035 đồng, nay bà TA được hoàn lại 13.073.965 đồng.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 116, 280, 463, 466 Bộ luật Dân sự 2015;

Căn cứ khoản 3 Điều 35, Điều 37, điểm b khoản 2 Điều 227, 264, 266, 267, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Nguyễn TA. Buộc bị đơn – bà Nguyễn HN - Chủ doanh nghiệp tư nhân thương mại Thiết kế Bao bì TA1 phải trả cho Nguyễn TA số tiền là 2.052.136.350 đồng (Hai tỷ không trăm năm mươi hai triệu một trăm ba mươi sáu nghìn ba trăm năm mươi đồng).

Kể từ ngày đương sự có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn chưa thi hành thì phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành án.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn – bà Nguyễn HN - Chủ doanh nghiệp tư nhân thương mại Thiết kế Bao bì TA1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 73.042.727 đồng (Bảy mươi ba triệu không trăm bốn mươi hai nghìn bảy trăm hai mươi bảy đồng).

Hoàn lại tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 20.500.000 đồng (Hai mươi triệu năm trăm nghìn đồng) cho bà Nguyễn TA theo biên lai thu số 03361 ngày 16/7/2013 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Do bà Nguyễn TA đã nhận lại 7.426.035 đồng (Bảy triệu bốn trăm hai mươi sáu nghìn không trăm ba mươi lăm đồng), nay bà TA được hoàn lại 13.073.965 đồng (Mười ba triệu không trăm bảy mươi ba nghìn chín trăm sáu mươi lăm đồng).

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự


45
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 294/2020/DSST

Số hiệu:294/2020/DSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:04/03/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về