Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 219/2023/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 219/2023/DS-ST NGÀY 25/09/2023 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 25 tháng 9 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 391/2023/TLST-DS ngày 27 tháng 7 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 480/2023/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Việt S, sinh năm 1977 (Có mặt). Địa chỉ: Khóm 1, thị t, huyện P, tỉnh C ..

- Bị đơn:

1. Bà Châu Thị H, sinh năm 1960 (Vắng mặt).

2. Bà Nguyễn Trúc M, sinh năm 1994 (Vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Khóm 3, thị t, huyện P, tỉnh C ..

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện ngày 23 tháng 7 năm 2023, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Việt S trình bày:

Vào ngày 23/12/2021, bà Châu Thị H có vay của ông số tiền 78.000.000 đồng, lãi suất theo thỏa thuận là 1,66%/tháng. Khi vay tiền bà H có ký tên biên nhận nợ, hẹn đến ngày 23/01/2022 thanh toán, đến hạn bà H không thanh toán cho ông tiền nợ gốc và lãi. Ngày 24/12/2021, bà Nguyễn Trúc M (là con ruột bà H) có ký giấy cam kết hẹn đến ngày 20/01/2022 sẽ cùng mẹ là bà Châu Thị H thanh toán nợ cho ông S. Ngày 04/10/2022, ngày 19/12/2022 và ngày 02/3/2023, bà H và bà M đã thanh toán được 6.000.000 đồng, đối trừ số tiền đã thanh toán, bà H còn nợ ông 72.000.000 đồng.

Vì vậy, ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Châu Thị H, bà Nguyễn Trúc M cùng trả cho ông 72.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi suất theo quy định pháp luật từ ngày 23/12/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm.

- Bị đơn bà Châu Thị H, bà Nguyễn Trúc M đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng nhưng bà Châu Thị H, bà Nguyễn Trúc M vắng mặt không lý do và không cung cấp lời khai, chứng cứ về việc khởi kiện của ông Nguyễn Việt S.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về tố tụng:

- Việc ông Nguyễn Việt S khởi kiện bà Châu Thị H, bà Nguyễn Trúc M trả tiền nợ vay. Do đó, đây là tranh chấp hợp đồng dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự; bà Châu Thị H, bà Nguyễn Trúc M là bị đơn có địa chỉ cư trú tại huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo trình tự, thủ tục tố tụng.

- Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Châu Thị H, bà Nguyễn Trúc M được Tòa án tống đạt hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà Châu Thị H, bà Nguyễn Trúc M.

- Xét về quan hệ tranh chấp: Việc tranh chấp giữa ông Nguyễn Việt S với bà Châu Thị H, bà Nguyễn Trúc M là tranh chấp hợp đồng vay tài sản được quy định tại Điều 463 của Bộ luật Dân sự 2015.

[2].Về nội dung:

- Xét yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt S buộc bà Châu Thị H, bà Nguyễn Trúc M trả cho ông số tiền nợ là 72.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy: Để chứng minh cho yêu cầu của mình, quá trình giải quyết vụ án, ông S có cung cấp cho Tòa giấy biên nhận nợ ngày 23/12/2021, bà H có ký tên vào biên nhận nợ. Nội dung biên nhận, bà H có vay của ông S số tiền 78.000.000 đồng. Tại đơn khởi kiện ngày 06/10/2022 và tại phiên tòa, ông S thừa nhận bà Châu Thị H đã thanh toán cho ông 6.000.000 đồng vào các ngày 04/10/2022, ngày 19/12/2022 và ngày 02/3/2023 nên được đối trừ vào nợ gốc 78.000.000 đồng, như vậy bà H còn nợ tiền vay của ông S là 72.000.000 đồng. Do đó yêu cầu của ông Nguyễn Việt S buộc bà Châu Thị H trả cho 72.000.000 đồng là có căn cứ được chấp nhận.

Đối với bà Nguyễn Trúc M, ngày 24/12/2021 bà M có ký giấy cam kết đến ngày 20/01/2022 sẽ cùng bà Châu Thị H trả khoản nợ trên cho ông S. Tại khoản 1 Điều 335 Bộ luật dân sự quy định Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”. Như vậy, đến ngày 23/01/2022, bà Châu Thị H không trả khoản nợ trên cho ông S nên yêu cầu của ông S buộc bà M liên đới cùng bà Châu Thị H trả nợ cho ông S là có căn cứ, được chấp nhận.

Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử nhận thấy, yêu cầu của ông Nguyễn Việt S, buộc bà Châu Thị H, bà Nguyễn Trúc M có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Nguyễn Việt S số tiền nợ vay 72.000.000 đồng là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về yêu cầu tính lãi suất: Tại biên nhận ngày 23/12/2021, có quy định thời hạn thanh toán là ngày 23/01/2022. Ông S cho rằng từ ngày 23/01/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm, bà H không thực hiện nghĩa vụ như đã cam kết. Như vậy, bà H đã vi phạm thời hạn thanh toán từ ngày 23/01/2022 cho ông S, do đó, yêu cầu của ông Nguyễn Việt S buộc bà Châu Thị H phải có nghĩa vụ trả tiền lãi đối với số tiền nợ gốc là 72.000.000 đồng theo mức lãi suất quy định của Pháp luật tính từ ngày 23/12/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Ông S và bà H có thỏa thuận về lãi suất 1,66%/tháng là không vượt quá mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự nên được chấp nhận.

Tiền lãi của số tiền vay 72.000.000 đồng từ ngày 23/12/2021 đến 25/9/2023 là 24.078.904 đồng. Tổng số tiền nợ gốc và lãi là 96.078.904 đồng.

Do đó, yêu cầu của ông Nguyễn Việt sử buộc bà Châu Thị H, bà Nguyễn Trúc M có nghĩa vụ liên đới trả cho ông số tiền nợ gốc và lãi là 96.078.904 đồng là có căn cứ được chấp nhận.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Việt S nên ông S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bà Châu Thị H, bà Nguyễn Trúc M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 335, 463, 466 và 468 của Bộ luật dân sự 2015; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt S. Buộc bà Châu Thị H, bà Nguyễn Trúc M cùng liên đới trả cho ông Nguyễn Việt S số tiền 96.078.904 đồng. Trong đó, nợ gốc là 72.000.000 đồng, nợ lãi 24.078.904 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Việt S không phải chịu án phí, ông S đã nộp tiền tạm ứng án phí 2.370.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0019108 ngày 27 tháng 7 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân; Ông S được nhận lại khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Buộc bà Châu Thị H, bà Nguyễn Trúc M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 4.803.945 đồng, nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

33
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 219/2023/DS-ST

Số hiệu:219/2023/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Phú Tân - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 25/09/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về