Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 126/2020/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH

BẢN ÁN 126/2020/DS-ST NGÀY 17/11/2020 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 17 tháng 11 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 86/2020/TLST-DS, ngày 09 tháng 7 năm 2020, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1607/2020/QĐXX-ST ngày 06 tháng 10 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1679/2020/QĐST-DS, ngày 26 tháng 10 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần ĐA Địa chỉ: Phường 3, Quận PN, thành phố HCM.

Người đại diện hợp pháp: Ông Võ Văn T, Nhân viên phát triển kinh doanh – Ngân hàng TMCP ĐA – chi nhánh Bình Định – Phòng giao dịch PT (Có mặt).

Địa chỉ: Địa chỉ: 1558 HV, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1966 (Vắng mặt)

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Văn V, sinh năm 1991 (Vắng mặt) Cùng địa chỉ: Thôn NA, xã PT, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 4 năm 2020, tại bản tự khai ngày 04/8/2020 và trong quá trình xét xử, đại diện hợp pháp của nguyên đơn anh Võ Văn Thành trình bày:

Ngày 22/4/2015 bà Nguyễn Thị L, cùng con trai là anh Trần Văn V có vay Ngân hàng TMCP ĐA (Phòng giao dịch Phú Tài ) số tiền 20.000.000đ; Theo giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ngày 22/4/2015, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất trong hạn 11%/năm, lãi suất quá hạn 16,5%/năm, phương thức trả nợ: Trả vốn và lãi hàng tháng, mỗi tháng trả 2.000.000đ, trả trong vòng 11 tháng, tháng cuối là 200.000đ, biện pháp bảo đảm cho vay, tín chấp. Từ khi vay đến nay, bà L chỉ mới trả cho Ngân hàng 15.000.000đ (Trong đó trả tiền gốc 13.082.051đ, trả tiền lãi trong hạn 1.917.949đ). Đến ngày 25/11/2018 Ngân hàng đã lập biên bản làm việc, về việc thu hồi, xử lý nợ và bà L cam kết mỗi tháng trả 1.500.000đ, thời gian kể từ ngày 30/11/2018 cho đến khi hết nợ, nhưng đến nay bà L vẫn không trả nợ như đã cam kết. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà L trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần ĐA số tiền nợ còn tính đến ngày xét xử 17/11/2020 là 13.863.936đ (Trong đó nợ gốc 6.917.949đ, nợ lãi trong hạn 282.051đ, nợ lãi quá hạn 6.663.936đ). Nếu bà L không có tài sản để trả nợ thì yêu cầu Tòa án buộc con bà L là anh Trần Văn V là người bảo lãnh phải dùng tài sản của mình để trả thay số nợ trên cho bà L.

Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Văn V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và Quyết định hoãn phiên tòa, nhưng bà L và anh V vẫn vắng mặt nên Tòa tiến hành xét xử vắng mặt bà L, anh V.

* Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Từ khi thụ lý đơn khởi kiện đến tại phiên tòa Thẩm phán và Hội đồng xét xử, nguyên đơn chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị L và và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần văn V không chấp hành các Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 463, 466, 468, 335 và 342 Bộ luật dân sự năm 2005. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án dân sự tranh chấp hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo qui định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án này có bị đơn là bà Nguyễn Thị L đang cư trú tại huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định; Vụ án không có yếu tố nước ngoài, vì vậy vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định theo qui định tại điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án đã triệu tập bị đơn bà Nguyễn Thị L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Văn V hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên Tòa, nhưng bà L, anh V vắng mặt không có lý do nên căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà L, anh V.

[2] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần ĐA yêu cầu bà Nguyễn Thị L trả cho Ngân hàng số tiền 13.863.936đ (Trong đó nợ gốc 6.917.949đ, nợ lãi trong hạn 282.051đ, nợ lãi quá hạn 6.663.936đ). Hội đồng xét xử thấy rằng: Căn cứ vào giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ngày 22/4/2015, thì Ngân hàng thương mại cổ phần ĐA có cho bà L vay 20.000.000đ, thời hạn vay 01 năm, lãi suất trong hạn 11%/năm, lãi suất quá hạn 16,5%/năm, phương thức trả nợ là trả vốn và lãi hàng tháng, mỗi tháng 2.000.000đ, trả trong vòng 11 tháng, tháng cuối là 200.000đ, biện pháp bảo đảm cho vay, tín chấp, người bảo lãnh số tiền vay trên của bà Liệu, anh Trần Văn V con của bà L. Căn cứ các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do nguyên đơn xuất trình thì từ khi vay đến nay, bà L chỉ mới trả cho Ngân hàng được 15.000.000đ (Trong đó trả nợ tiền gốc 13.082.051đ, trả nợ lãi trong hạn 1.917.949đ). Mặt khác, bà L, anh V đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng từ chối đến Tòa và cũng không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ nào có liên quan đến vụ án, hoặc văn bản trình bày ý kiến nào phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đều này chứng minh bà L, anh V mặc nhiên thừa nhận số nợ 13.863.936đ (Trong đó nợ gốc 6.917.949đ, nợ lãi trong hạn 282.051đ, nợ lãi quá hạn 6.663.936đ) như nguyên đơn yêu cầu là sự thật.

Từ những nhận định nên trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nguyên đơn, buộc bà L có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần ĐA số tiền 13.863.936đ (Trong đó nợ gốc 6.917.949đ, nợ lãi trong hạn 282.051đ, nợ lãi quá hạn 6.663.936đ) là phù hợp các Điều 463,466, 468, 470 Bộ luật dân sự 2015. Nếu bà L không có tài sản để trả nợ thì buộc anh Trần Văn V phải có nghĩa vụ dùng tài sản của mình để trả nợ thay cho bà L.

[3] Về án phí: Bà L phải chịu tiền án phí là 5% x 13.863.936đ = 693.000đ sung Ngân sách nhà nước; Hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng thương mại cổ phần ĐA.

[4] Xét ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ vào các Điều 463, 466, 468, 470, 335, 420 Bộ luật dân sự 2015; Điều 23 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân Tối cao; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần ĐA. Buộc bà Nguyễn Thị L có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần ĐA số tiền 13.863.936đ (Mười ba triệu tá m trăm sáu mươi ba ngàn chín trăm ba mươi sáu đồng), (Trong đó nợ gốc 6.917.949đ, nợ lãi trong hạn 282.051đ, nợ lãi quá hạn 6.663.936đ). Nếu bà L không có tài sản để trả nợ thì yêu cầu Tòa án buộc anh Trần Văn V phải dùng tài sản của mình để trả thay số nợ trên cho bà L.

2. Kể từ ngày tiếp theo ngày Tòa án xét xử (ngày 17/11/2020) bà Nguyễn Thị L còn phải chịu lãi suất mà các bên đã thỏa thuận, theo giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ, ngày 22/4/2015, cho đến khi trả hết nợ gốc.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị L phải chịu 693.000đ (Sáu trăm chín mươi ba ngàn đồng) án phí sung ngân sách nhà nước.

Hoàn lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần ĐA 310.000đ (Ba trăm mười ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí mà Ngân hàng đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000680, ngày 02/7/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

4. Ngân hàng thương mại cổ phần ĐA có mặt tại Tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 17/11/2020). Bà L, anh V vắng mặt tại Tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân


16
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 126/2020/DS-ST

Số hiệu:126/2020/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tuy Phước - Bình Định
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:17/11/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về