Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 04/2025/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

BẢN ÁN 04/2025/DS-ST NGÀY 06/01/2025 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 06 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 251/2024/TLST- DS ngày 25 tháng 10 năm 2024, về tranh chấp“Hợp đồng vay tài sản”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 179/2024/QĐXX-ST ngày 09/12/2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1970; Địa chỉ: hẻm F T, Khu phố A, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn S, sinh năm: 1956 và bà Huỳnh Thị M, sinh năm:

1958; Địa chỉ: Khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên.

Các đương sự đều có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị N trình bày: Tôi (N) và vợ chồng ông Nguyễn S, bà Huỳnh Thị M có quan hệ quen biết, cùng buôn bán tại chợ P trên 20 năm, nên tôi có cho vợ chồng ông S, bà M mượn số tiền tổng cộng là 540.000.000 đồng, cụ thể:

- Ngày 10/9/2023 (AL), cho mượn 300.000.000 đồng;

- Ngày 20/9/2023 (AL), cho mượn 170.000.000 đồng nhưng bà M chỉ ghi trong giấy là 17.000.000 đồng, nên tôi có sửa lại thành chữ một trăm bảy triệu chẵn 170.000.000 đồng.

- Ngày 04/11/2023 (AL), cho mượn 30.000.000 đồng.

- Ngày 20/02/2024 (AL), cho mượn 40.000.000 đồng.

Khi mượn hai bên không thỏa thuận về thời gian trả và lãi suất, nhưng sau đó bà M có hẹn tôi đến ngày 05/5 âm lịch sẽ trả nhưng đến nay vẫn không trả dù tôi đã đòi rất nhiều lần. Nay phía ông S, bà M không thừa nhận có nhận của tôi số tiền 170.000.000 đồng, nên theo giấy tờ tôi phải chịu; do đó tôi thống nhất chỉ cho ông S bà M mượn số tiền tổng cộng là 387.000.000 đồng. Ông S, bà M đã trả được cho tôi 50.000.000 đồng nên còn lại 337.000.000 đồng. Do đó, nay tôi khởi kiện yêu cầu ông S, bà M phải trả lại cho tôi dứt điểm một lần số tiền 337.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất. Đối với số tiền 153.000.000 đồng ông S bà M không thừa nhận, tôi cũng không có tài liệu chứng cứ nên tôi xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện này, không đề nghị Tòa xem xét buộc ông S, bà M trả số tiền 153.000.000 đồng này nữa.

* Bị đơn ông Nguyễn S, bà Huỳnh Thị M thống nhất trình bày: Vợ chồng tôi (S, M) thừa nhận có mượn tiền của bà N như các giấy mượn tiền bà N cung cấp, nhưng đối với giấy mượn tiền ngày 20/9/2023 (AL), chúng tôi chỉ mượn có 17.000.000 đồng nhưng bà N tự ghi thêm là 170.000.000 đồng, nên chúng tôi không thừa nhận đối với số tiền 153.000.000 đồng. Như vậy, tổng cộng chúng tôi có mượn của bà N số tiền là 387.000.000 đồng; chúng tôi đã trả được 50.000.000 đồng nên hiện chúng tôi chỉ còn nợ bà N số tiền 337.000.000 đồng.

Nay bà N kiện yêu cầu chúng tôi trả số tiền 337.000.000 đồng thì chúng tôi chấp nhận nhưng do tuổi cũng đã cao không có khả năng lao động nên chúng tôi xin trả dần hàng tháng là 5.000.000 đồng cho đến khi hết nợ.

Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết buộc bị đơn phải trả số tiền còn nợ tổng cộng là 337.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất, không chấp nhận cho trả dần; rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 153.000.000 đồng.

Bị đơn giữ nguyên ý kiến đã trình bày, thừa nhận có nợ nguyên đơn số tiền 337.000.000 đồng, nhưng xin được trả dần.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tại biên bản hòa giải ngày 21/11/2024 và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu buộc bị đơn phải trả số tiền 153.000.000 đồng. Xét thấy, việc nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện là tự nguyện và phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự nên chấp nhận; đình chỉ xét xử sơ thẩm một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 337.000.000 đồng, thấy: Căn cứ các Giấy mượn tiền (bản gốc) do nguyên đơn cung cấp và lời khai của các bên đương sự, có cơ sở xác định bị đơn có vay của nguyên đơn số tiền các lần như sau:

- Ngày 10/9/2023 (AL), vay 300.000.000 đồng;

- Ngày 20/9/2023 (A), vay 17.000.000 đồng.

- Ngày 04/11/2023 (A), vay 30.000.000 đồng.

- Ngày 20/02/2024 (A), vay 40.000.000 đồng.

[3] Tổng cộng, bị đơn vay của nguyên đơn số tiền là 387.000.000 đồng; bị đơn đã trả được 50.000.000 đồng; còn lại 337.000.000 đồng chưa trả. Các giấy mượn tiền không xác định lãi suất và không ghi rõ thời hạn trả nợ, nên xác định đây là hợp đồng vay không kỳ hạn và không lãi suất nên nguyên đơn có quyền đòi lại bất cứ lúc nào nhưng phải báo trước cho bị đơn một thời gian hợp lý. Tại phiên tòa, hai bên xác định vào khoảng tháng 02/2024 (âm lịch) nguyên đơn đã đòi nợ rất nhiều lần nhưng đến nay bị đơn vẫn không trả là vi phạm nghĩa vụ. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả số tiền còn nợ tổng cộng là 337.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi suất là có căn cứ nên chấp nhận.

[4] Bị đơn thừa nhận nợ và xin được trả dần hàng tháng nhưng nguyên đơn không đồng ý. Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự thì: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn…, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Trong trường hợp này, hai bên không thỏa thuận được về thời gian và phương thức trả nợ nên bị đơn phải có trách nhiệm trả đủ số tiền còn nợ cho nguyên đơn.

[5] Về án phí: Bị đơn là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 357, 463, 466, 468, 469 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Tuyên xử:

1. Đình chỉ xét xử sơ thẩm một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu buộc bị đơn phải trả số tiền 153.000.000 đồng (Một trăm năm mươi ba triệu đồng).

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N. Buộc bị đơn ông Nguyễn S và bà Huỳnh Thị M phải trả cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị N số tiền vay còn nợ tổng cộng là 337.000.000 đồng (Ba trăm ba mươi bảy triệu đồng); không yêu cầu tính lãi suất.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Bị đơn ông Nguyễn S, bà Huỳnh Thị M là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị N 10.800.000 đồng (Mười triệu tám trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0002927 ngày 24/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

68
Trang: /
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng vay tài sản số 04/2025/DS-ST

Số hiệu:04/2025/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Tuy Hòa - Phú Yên
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 06/01/2025
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về