Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 90/2023/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 90/2023/DS-ST NGÀY 03/08/2023 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 03 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 182/2023/TLST-DS ngày 17 tháng 5 năm 2023 về “tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 139/2023/QĐXXST- DS ngày 28 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 271/2023/QĐST-DS ngày 18 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam (viết tắt là Ngân hàng).

Trụ sở: Tòa nhà CC5, Bán đảo Linh Đàm, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Thanh Biên – Phó Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện Cái Nước (có mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1972 (vắng mặt).

Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1976 (vợ ông H, vắng mặt).

Cùng cư trú tại: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh C ..

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện và bản tự khai cùng đề ngày 08 tháng 5 năm 2023, nguyên đơn trình bày yêu cầu:

Căn cứ Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị L với Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện Cái Nước, theo đó ông H và bà L đã vay vốn tại ngân hàng, gồm các món vay như sau:

- Mã món vay số 6600000712859374 ngày 17/5/2018 vay với số tiền gốc là 6.000.000 đồng, hạn trả vào ngày 07/5/2023, lãi suất cho vay 0,75%/tháng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông H và bà L không thanh toán được khoảng tiền gốc và tiền lãi. Đã đến hạn trả nợ theo hợp đồng, nhưng ông H và bà L không thực hiện nghĩa vụ của mình, nên Ngân hàng yêu cầu ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị L phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền gốc là 6.000.000 đồng, tiền lãi.

- Mã món vay số 6600000712889449 ngày 25/5/2018 vay với số tiền gốc là 18.500.000 đồng, hạn trả vào ngày 07/5/2023, lãi suất cho vay 0,55%/tháng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông H và bà L không thanh toán được khoảng tiền gốc và tiền lãi. Đã đến hạn trả nợ theo hợp đồng, nhưng ông H và bà L không thực hiện nghĩa vụ của mình, nên Ngân hàng yêu cầu ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị L phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền gốc là 18.435.662 đồng, tiền lãi.

* Đối với ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng ông H và bà L không tham gia phiên họp và phiên hòa giải, ông bà cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

* Tại phiên toà:

- Người đại diện ủy quyền của nguyên đơn, ông Trần Thanh Biên bảo lưu yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị L có trách nhiệm thanh toán tổng số tiền vay của 02 hợp đồng bao gồm: tổng số tiền nợ gốc còn nợ là 24.435.662 đồng, tổng số tiền lãi tính đến ngày 03/8/2023 là 5.599.690 đồng và lãi phát sinh đến thời điểm tất toán món nợ.

- Ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị L vắng mặt.

- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về thủ tục tố tụng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử và đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam, buộc ông H và bà L thanh toán tổng số tiền vay 02 hợp đồng tín dụng là 30.035.352 đồng và lãi suất phát sinh đến khi thanh toán xong nợ vay.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn – ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ xét xử lần 2 mà ông bà vắng mặt không lý do; Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị L.

[2] Xác định quan hệ tranh chấp và áp dụng pháp luật trong vụ án: Ông H và bà L, cùng cư trú tại ấp Tân Hòa – xã Thạnh Phú – huyện Cái Nước ký kết 02 hợp đồng tín dụng vay tiền với Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện Cái Nước, vay tiền không thế chấp tài sản. Vì vậy, có đủ cơ sở xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước.

[3] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng bảo lưu yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị L thực hiện 02 hợp đồng tín dụng (sổ vay vốn). Hội đồng xét xử xét thấy:

- Mã món vay số 6600000712859374 ngày 17/5/2018 vay với số tiền gốc là 6.000.000 đồng, hạn trả vào ngày 07/5/2023, lãi suất cho vay 0,75%/tháng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông H và bà L không thanh toán được khoảng tiền gốc và tiền lãi, đã đến hạn trả nợ theo hợp đồng, nhưng ông H và bà L không thực hiện nghĩa vụ của mình, đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký kết. Do đó, vợ chồng ông H và bà L phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền gốc là 6.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 03/8/2023 với số tiền là 1.758.232 đồng.

- Mã món vay số 6600000712889449 ngày 25/5/2018 vay với số tiền gốc là 18.500.000 đồng, hạn trả vào ngày 07/5/2023, lãi suất cho vay 0,55%/tháng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông H và bà L không thanh toán được khoảng tiền gốc và tiền lãi, đã đến hạn trả nợ theo hợp đồng, nhưng ông H và bà L không thực hiện nghĩa vụ của mình, đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký kết. Do đó, vợ chồng ông H và bà L phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền gốc là 18.435.662 đồng, tiền lãi tính đến ngày 03/8/2023 với số tiền là 3.841.458 đồng.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị L phải thanh toán tổng số tiền vay của 02 hợp đồng tín dụng, trong đó: tổng số tiền gốc là 24.435.662 đồng, tổng số tiền lãi còn nợ tính đến ngày 03/8/2023 là 5.599.690 đồng.

Từ ngày 04/8/2023 vợ chồng ông H và bà L còn phải tiếp tục chịu thêm khoản tiền lãi trên số tiền gốc còn nợ nêu trên, theo mức lãi suất được quy định trong sổ vay vốn (hợp đồng tín dụng) đến khi thanh toán dứt nợ vay.

[4] Về án phí: Áp dụng Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Vợ chồng ông H và bà L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm = 30.035.352 đồng x 5% = 1.502.000 đồng (Một triệu năm trăm lẻ hai ngàn đồng, tính tròn số) - Phần Ngân hàng được miễn nộp án phí nên không đặt ra xem xét. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên;

Căn cứ vào:

QUYẾT ĐỊNH

- Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng.

- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam.

1. Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị L có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam tổng số tiền của 02 hợp đồng tín dụng, trong đó: tổng số tiền gốc còn nợ là 24.435.662 đồng, tổng số tiền lãi còn nợ tính đến ngày 03/8/2023 là 5.599.690 đồng.

Từ ngày 04/8/2023 ông H và bà L còn phải tiếp tục chịu thêm khoản tiền lãi trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán nêu trên, theo mức lãi suất được quy định tại sổ vay vốn đến khi thanh toán dứt nợ vay.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 5%:

- Ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 1.502.000 đồng (Một triệu năm trăm lẻ hai ngàn đồng, tính tròn số), nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước.

- Phần Ngân hàng được miễn nộp tạm ứng phí, nên không đặt ra xem xét.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án dân sự thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.” 3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

32
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

 Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 90/2023/DS-ST

Số hiệu:90/2023/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cái Nước - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 03/08/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về