TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
BẢN ÁN 109/2024/DS-ST NGÀY 26/08/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu xét xử vụ án Dân sự thụ lý số 386/2024/DSST ngày 01 tháng 7 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐST-XX ngày 22 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên Tòa ngày 07 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Công ty T1 - Người đại diện theo pháp luật ông LEE YUN HYOUNG, chức danh Tổng giám đốc.
Địa chỉ: I P, phường B, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
-Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Công ty L1 - Người đại diện theo pháp luật ông Cồ Lê H (văn bản uỷ quyền số 09/2024/GUQ-MAFC , ngày 02-5-2024) Địa chỉ: Số B ( tầng 1+ 3) L, phường V, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Võ Bá L(Văn bản uỷ quyền 106/GUQ- 2024, ngày 05-7-2024) Địa chỉ: Số B ( tầng 1+ 3) L, phường V, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Anh Trần Thanh S, sinh năm 1991 Địa chỉ: D N, phường C, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt đến lần thứ hai).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 22-5-2024 và qua quá trình làm việc, đại diện Công ty T1 “Tên viết tắt Công ty T1” trình bày:
Nội dung: Công ty T1 đề nghị Toà án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xem xét giải quyết buộc anh Trần Thanh S thanh toán toàn bộ khoản vay, bao gồm dư gốc, lãi và phí tạm tính đến ngày 20-8-2024 là 37.045.469đ(Ba mươi bảy triệu không trăm bốn mươi lăm ngàn bốn trăm sáu mươi chín đồng).
Ngày 21-4-2023; Công ty T1 và anh Trần Thanh S ký Hợp đồng tín dụng số 4528076 về việc cho anh S vay số tiền 22.724.700đ (Hai mươi hai triệu bảy trăm hai mươi bốn ngàn bảy trăm đồng); trong đó nợi gốc là 21.000.000đ(Hai mươi mốt triệu đồng) và 1.624.700đ (Một triệu sáu trăm hai mươi bốn ngàn bảy trăm đồng) tiền bảo hiểm cho khoản vay; thời hạn vay 36 tháng, kể từ ngày 15-8-2021 đến 15-7-2024, lãi suất cho vay 48%/ năm.
Mục đích vay tiêu dùng cá nhân, hình thức vay tìn chấp không có tài sản bảo đảm.
Quá trình thực hiện hợp đồng: Anh S thành toán được 01 kỳ với tổng số tiền là 1.621.000đ(Một triệu sáu trăm hai mươi mốt ngàn đồng).
Tính đến ngày 20-8-2024 số nợ anh S còn phải trả như sau:
Số nợ gốc, nợ lãi anh S phải trả: 37.045.469đ(Ba mươi bảy triệu không trăm bốn mươi lăm ngàn bốn trăm sáu mươi chín đồng);Trong đó:
Nợ gốc còn phải trả là: 22.724.700đ (Hai mươi hai triệu bảy trăm hai mươi bốn ngàn bảy trăm đồng);
Nợ lãi trong hạn, lãi phạt, lãi chậm trả: 14.320.769đ(Mười bốn triệu ba trăm hai mươi ngàn bảy trăm sáu mươi chín đồng);
Bị đơn anh Trần Thanh S không chấp hành theo giấy triệu tập làm việc của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu; anh S vắng mặt không có lý do, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân Tp.Vũng Tàu phát biểu:
[1] Về tố tụng: Tòa án đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 về việc thụ lý, giải quyết vụ án dân sự, về thời hạn chuẩn bị xét xử đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về việc xét xử vụ án.
Việc chấp hành pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.
[2] Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty T1 đối với bị đơn anh Trần Thanh S.
[3] Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn anh Trần Thanh S phải chịu theo quy định của pháp luật.
Nguyên đơn Công ty T1 được hoàn lại tiền tạm ứng án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ kết quả tranh luận và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp.Vũng Tàu, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Công ty T1 được cấp gấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH MTT1; mã số doanh nghiệp C; đăng ký lần đầu ngày 08- 9-2011, đăng ký thay đổi lần thứ 13 ngày 02-4-2024, kèm Giấy phép số 73/GP- NHNN, ngày 12-11-2021, thành lập và hoạt đồng Công ty T1 , được thực hiện các hoạt động của công ty tài chính tín dụng tiêu dùng theo quy định của pháp luật và cùa Ngân hàng N trong đó có hoạt động cho vay tiêu dùng.
Ngày 21-4-2023; Công ty T1 và anh Trần Thanh S ký Hợp đồng tín dụng số 4528076 về việc cho anh S vay số tiền 22.724.700đ (Hai mươi hai triệu bảy trăm hai mươi bốn ngàn bảy trăm đồng);
Mục đích vay vốn của anh S, anh S vay tiêu dùng cho cá nhân; nay xảy ra tranh chấp xác định đây là vụ án Dân sự “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” căn cứ Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự;
Theo địa chỉ ghi trên Hợp đồng tín dụng thì anh Trần Thanh S cư trú tại số D N, phường C, thành phố V nên vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân thành phố Vũng Tàu căn cứ Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Ngày 07-8-2024, Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu đưa vụ án ra xét xử bị đơn anh Trần Thanh S; vắng mặt không lý do; Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên Tòa.
Nay phiên Tòa được mở lại bị đơn anh S vắng mặt đến lần thứ hai không vì trở ngại khách quan, vắng mặt không lý do; Hội đồng xét xử căn cứ điển b, khoản 1 Điều 227, khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt bị đơn anh Trần Thanh S.
Nguyên đơn Công ty T1 có đơn xin xét xử vắng mặt; Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt của nguyên đơn không ảnh hưởng tới phiên xét xử do đó căn cứ điểm a khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn Công ty T1.
[2] Về nội dung: Yêu cầu của nguyên đơn Công ty T1 yêu cầu bị đơn anh Trần Thanh S trả khoản nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 20-8-2024 là 37.045.469đ(Ba mươi bảy triệu không trăm bốn mươi lăm ngàn bốn trăm sáu mươi chín đồng); trong đó:
+ Nợ gốc 22.724.700đ(Hai mươi hai triệu bảy trăm hai mươi bốn ngàn bảy trăm đồng);
+ Nợ lãi trong hạn: 13.500.579đ(Mười ba triệu năm trăm ngàn năm trăm bảy mươi chín đồng);
+Nợ lãi quá hạn: 10.968đ(Mười ngàn chín trăm sáu mươi tám đồng);
+Nợ lãi chậm trả: 809.222đ(T trăm lẻ chín ngàn hai trăm hai mươi hai đồng) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng tính từ ngày 21-8-2024 đến ngày anh Trần Thanh S thanh toán xong khoản nợ.
[3] Xét hiệu lực của Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4528076, ngày 21-4-2023; Hội đồng xét xử nhận định: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn Công ty T1 kèm theo các tài liệu chứng cứ có đủ cơ sở để nhận định:
Ngày 21-4-2023, anh Trần Thanh S có giao kết với Công ty T1 Hợp đồng tín dụng số 4528076; xét hình thức của hợp đồng được lập thành văn bản do người có thẩm quyền của Công ty T1 và anh Trần Thanh S tự nguyện giao kết.
Tuy anh S không trực tiếp ký tên vào Hợp đồng nhưng có giao kết hợp đồng dưới hình thức chữ ký số do anh S đã đăng ký loại chứng thư số OID-B1.0 -1D do trung tâm D chứng nhận.
Xét thấy; theo Điều 8 Nghị định 130/2018/NĐ-CP quy định về giá trị của chữ ký số như sau: “ Trong trường hợp pháp luật quy định văn bản cần có chữ ký thì yêu cầu đối với một thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng nếu thông điệp dữ liệu đó được ký bằng chữ ký số và chữ ký số đó được đảm bảo an toàn theo quy định tại Điều 9 Nghị định 130/2018/NĐ-CP.Điều 9 Nghị định 130/2018/NĐ- CP quy định chữ ký số được xem là chữ ký điện tử an toàn khi đáp ứng các điều kiện sau:
“ Chữ ký số được tạo ra trong thời gian chứng thư số có hiệu lực và kiểm tra được bằng khoá công khai ghi trên chứng thư số đó”;
“ Chữ ký số được tạo ra bằng việc sử dụng khoá bí mật tương ứng với khoá công khai ghi trên chứng thư số do một trong các tổ chứng sau đây cấp:
+ Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số quốc gia;
+ Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số Chính phủ;
+ Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng.
Hội đồng xét xử xét thấy: Chữ ký số của anh Trần Thanh S đăng ký và được Trung tâm D cung cấp. Công ty TNHH H1 là đơn vị được thực hiện dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng FPT- CA, theo giấy phép cung cấp dịch vụ chữ ký số công cộng 527/GP-BTTTT, ngày 12-10-2015, của Bộ T2 nên chữ ký số anh S đăng ký có giá trị pháp lý.
Xét về nội dung của Hợp đồng tín dụng số 4528076, ngày 21-4-2023 không vị phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội, thể hiện ý trí tự nguyện của các bên giao kết, phù hợp với các quy định của pháp luật dân sự ; Điều 122, Điều 123 và Điều 124 Bộ luật dân sự năm 2015; do đó, Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4375464, ngày 07-3-2023 giao kết giữa anh Trần Thanh S với Công ty T1 có hiệu lực pháp luật.
[4] Xét yêu cầu của nguyên đơn: Yêu cầu bị đơn anh Trần Thanh S trả khoản nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 20-8-2024 là 37.045.469đ(Ba mươi bảy triệu không trăm bốn mươi lăm ngàn bốn trăm sáu mươi chín đồng); trong đó:
+ Nợ gốc 22.724.700đ(Hai mươi hai triệu bảy trăm hai mươi bốn ngàn bảy trăm đồng);
+ Nợ lãi trong hạn: 13.500.579đ(Mười ba triệu năm trăm ngàn năm trăm bảy mươi chín đồng);
+ Nợ lãi quá hạn: 10.968đ(Mười ngàn chín trăm sáu mươi tám đồng);
+ Nợ lãi chậm trả: 809.222đ(T trăm lẻ chín ngàn hai trăm hai mươi hai đồng) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng tính từ ngày 21-8-2024 đến ngày anh Trần Thanh S thanh toán xong khoản nợ.
Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn anh S đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và nợ lãi theo quy định tại Điều 8 của hợp đồng. Bị đơn anh S mới trả được Anh S thành toán được 01 kỳ với tổng số tiền là 1.621.000đ(Một triệu sáu trăm hai mươi mốt ngàn đồng) tiền lãi.
Bị đơn anh S đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình, không cung cấp cho Toà án các tài liệu, chứng cứ do bị đơn anh S nắm giữ.
[5] Từ nhận định nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T1 đối với bị đơn anh Trần Thanh S; buộc bị đơn anh Trần Thanh S phải trả số tiền 37.045.469đ(Ba mươi bảy triệu không trăm bốn mươi lăm ngàn bốn trăm sáu mươi chín đồng) cho nguyên đơn Công ty T1 tính đến ngày 20-8-2024.
Trong đó:
+ Nợ gốc 22.724.700đ(Hai mươi hai triệu bảy trăm hai mươi bốn ngàn bảy trăm đồng);
+ Nợ lãi trong hạn: 13.500.579đ(Mười ba triệu năm trăm ngàn năm trăm bảy mươi chín đồng);
+ Nợ lãi quá hạn: 10.968đ(Mười ngàn chín trăm sáu mươi tám đồng);
+ Nợ lãi chậm trả: 809.222đ(T trăm lẻ chín ngàn hai trăm hai mươi hai đồng) và tiền lãi phát sinh theo hợp vay số 4528076 ngày 21-4-2023, được tính từ ngày 21-8-2024 cho đến ngày bị đơn anh Trần Thanh S trả hết nợ cho nguyên đơn Công ty T1.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn anh Trần Thanh S có lỗi hoàn toàn nên phải chịu toàn bộ án phí Dân sự sơ thẩm;
Cách tính án phí:( Từ 6.000.000đ đến 400.000.000đ phải chịu 5% giá trị tài sản tranh chấp).
Về án phí DDST: Bị đơn anh Trần Thanh S phải chịu là 1.852.273đ (Một triệu tám trăm năm mươi hai ngàn hai trăm bảy mươi ba đồng).
Nguyên đơn Công ty T1 được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí 800.000đ(Tám trăm ngàn đồng), theo biên lai thu số 0000281 ngày 27-06-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147 , điển b, khoản 1 Điều 227, khoản 3 Điều 228, điểm a,b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 và Điều 8, Điều 27 và Điều 73 Luật tổ chức tín dụng năm 2024; khoản 02 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
[1] Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T1 đối với bị đơn anh Trần Thanh S.
[1.1] Buộc anh Trần Thanh S phải trả cho Công ty T1 số tiền là 37.045.469đ(Ba mươi bảy triệu không trăm bốn mươi lăm ngàn bốn trăm sáu mươi chín đồng) cho nguyên đơn Công ty T1 tính đến ngày 20-8-2024.
Trong đó:
+ Nợ gốc 22.724.700đ(Hai mươi hai triệu bảy trăm hai mươi bốn ngàn bảy trăm đồng);
+ Nợ lãi trong hạn: 13.500.579đ(Mười ba triệu năm trăm ngàn năm trăm bảy mươi chín đồng);
+ Nợ lãi quá hạn: 10.968đ(Mười ngàn chín trăm sáu mươi tám đồng);
+ Nợ lãi chậm trả: 809.222đ(T trăm lẻ chín ngàn hai trăm hai mươi hai đồng) và tiền lãi phát sinh theo hợp vay số 4528076 ngày 21-4-2023, được tính từ ngày 21-8-2024 cho đến ngày bị đơn anh Trần Thanh S trả hết nợ cho nguyên đơn Công ty T1.
[2] Về án phí dân sự sơ thẩm:
[2.1] Bị đơn: Anh Trần Thanh S phải chịu là 1.852.273đ (Một triệu tám trăm nămn mươi hai ngàn hai trăm bảy mươi ba đồng).
[2.2] Nguyên đơn Công ty T1 được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí 800.000đ(Tám trăm ngàn đồng), theo biên lai thu số 0000281 ngày 27-06-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu.
[3] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 109/2024/DS-ST
Số hiệu: | 109/2024/DS-ST |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thành phố Vũng Tàu - Bà Rịa - Vũng Tàu |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Ngày ban hành: | 26/08/2024 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về