Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 03/2022/DS-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HOÁ - TỈNH TUYÊN QUANG

BẢN ÁN 03/2022/DS-ST NGÀY 30/06/2022 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Trong ngày 30 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 36/2021/TLST - DS ngày 12 tháng 11 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2022/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 5 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 02/2022/QĐST-DS ngày 08/6/2022 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng NN và PTNT Việt Nam (A). Địa chỉ: Số 02, đường LH, phường TC, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Tiết Văn Th - chức vụ: Tổng giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Huy H - chức vụ: Giám đốc A - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa; Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Bà Phạm Thị H - chức vụ: Trưởng phòng kế hoạch kinh doanh - A - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa. Địa chỉ: Tổ dân phố VT, thị trấn VL, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang (Có đơn xin xử vắng mặt).

* Bị đơn:

+ Ông Quan Văn L, sinh năm 1982.

+ Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1986.

Cùng địa chỉ: Thôn BC, xã TM, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.

(Ông L, bà D vắng mặt lần 2 không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, quan điểm trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Ngân hàng NN và PTNT Việt Nam - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa do bà Phạm Thị H đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 17/7/2019 ông Quan Văn L và bà Nguyễn Thị D ký kết Hợp đồng tín dụng số 8104LAV201903731 với Ngân hàng NN và PTNT Việt Nam (A) - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa với hạn mức cho vay theo hợp đồng là 200.000.000 đồng; phương án cho vay theo hạn mức quy mô nhỏ; mục đích sử dụng vốn vay thanh toán các chi phí hoạt động kinh doanh, phục vụ nhu cầu đời sống; thời hạn duy trì hạn mức là 30 tháng kể từ ngày ký hợp đồng; thời hạn cho vay và kỳ hạn trả nợ theo từng báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ.

Ngày 27/5/2020 A - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa đã giải ngân theo Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ số 8104LDS202003920 cho ông L, bà D vay số tiền 100.000.000 đồng, thời hạn vay là 36 tháng, kể từ ngày ký hợp đồng. Lãi suất tiền vay là 12%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất tiền vay trong hạn. Mục đích vay vốn xây nhà bếp và mua trâu sinh sản, khoản vay không có tài sản bảo đảm (ông L, bà D giao cho A - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liên với đất số BQ 384554 do Ủy ban nhân dân huyện Chiêm Hóa cấp ngày 31/12/2013 số vào sổ cấp GCN:CH.02677, diện tích 3.024m2).

Theo Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ số 8104LDS202003920 ngày 27/5/2020 của A - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa thì khoản vay của ông Quan Văn L và bà Nguyễn Thị D chia làm 03 phân kỳ trả nợ gốc và kèm theo lãi phát sinh hàng tháng, cụ thể:

- Kỳ 1, ngày 27/5/2021 số tiền nợ gốc phải trả là 20.000.000 đồng.

- Kỳ 2, ngày 27/5/2022 số tiền nợ gốc phải trả là 30.000.000 đồng.

- Kỳ 3, ngày 27/5/2023 số tiền nợ gốc phải trả là 50.000.000 đồng.

Tuy nhiên ông Quan Văn L và bà Nguyễn Thị D đã vi phạm Hợp đồng tín dụng số 8104LAV201903731 ký ngày 17/7/2019 không thực hiện trả nợ gốc, lãi theo thỏa thuận. Toàn bộ dư nợ chuyển thành nợ quá hạn. Tính đến hết ngày 09/9/2021, tổng dư nợ của ông Quan Văn L và bà Nguyễn Thị D tạm tính (do nợ lãi vẫn tiếp tục phát sinh) tại A - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa là 115.594.411 đồng (Một trăm mười lăm triệu, năm trăm chín mươi bốn nghìn bốn trăm mười một đồng), trong đó:

- Nợ gốc: 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).

- Nợ lãi 15.594.411 đồng (Mười lăm triệu năm trăm chín mươi bốn nghìn bốn trăm mười một đồng).

A - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa đã nhiều lần gửi văn bản cũng như trực tiếp đến đôn đốc và yêu cầu ông Quan Văn L và bà Nguyễn Thị D thực hiện trả nợ gốc và lãi (Giấy báo nợ đến hạn ngày 20/5/2021; thông báo chuyển nợ quá hạn ngày 28/5/2021; biên bản kiểm tra xử lý nợ quá hạn ngày 06/6/2021, ngày 27/6/2021, ngày 08/8/2021, ngày 25/8/2021 và ngày 09/9/2021). Tuy nhiên, tính đến nay ông Quan Văn L và bà Nguyễn Thị D vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả toàn bộ nợ gốc, nợ lãi cho A - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa, liên tiếp vi phạm nghĩa vụ đã cam kết với A, cố tình không hợp tác, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, không phối hợp gây khó khăn lớn cho công tác thu hồi vốn của Nhà nước và quá trình xử lý, thu hồi nợ của A - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa.

Nay A yêu cầu ông Quan Văn L và bà Nguyễn Thị D có nghĩa vụ thanh toán cho A - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa tổng số tiền 115.594.411 đồng, trong đó: Nợ gốc là 100.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 09/9/2021 là 15.594.411 đồng và tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận cho đến khi thanh toán xong.

* Tại biên bản lấy lời khai, các bị đơn ông Quan Văn L và bà Nguyễn Thị D trình bày:

- Ông Quan Văn L trình bày: Ngày 17/7/2019 ông và vợ ông là bà Nguyễn Thị D có ký kết hợp đồng tín dụng số 8104LAV201903731 với A - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa với số tiền vay là 100.000.000 đồng, thời hạn vay là 36 tháng, lãi suất tiền vay là 12%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất tiền vay trong hạn, mục đích vay vốn về xây nhà bếp và nuôi trâu sinh sản. Thời hạn trả nợ chia làm 03 phân kỳ, quá trình trả nợ gốc theo phân kỳ 01 là ngày 27/5/2021, số tiền nợ gốc phải trả là 20.000.000 đồng kèm theo lãi suất phát sinh. Quá trình làm hồ sơ vay vốn ông và bà D có giao cho A - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 384554 do Ủy ban nhân dân huyện Chiêm Hóa cấp ngày 31/12/2013. Khi đến hạn trả nợ gốc và lãi suất phát sinh theo phân kỳ ông và bà D chưa thực hiện trả nợ theo hợp đồng quy định. Ông xác định ông được trực tiếp ký trong hợp đồng vay và xác nhận chữ ký trong hồ sơ hợp đồng tín dụng số 8104LAV201903731 ngày 17/7/2019 là của ông và vợ ông là Nguyễn Thị D. Nay A - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa yêu cầu ông và bà D trả tổng số tiền là 115.594.411 đồng, trong đó nợ gốc là 100.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 09/9/2021 là 15.594.411 đồng. Do hiện nay gia đình ông có khó khăn về kinh tế chưa có điều kiện trả hết nợ gốc và lãi suất phát sinh theo yêu cầu của A - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa, ông đề nghị A - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa tạo điều kiện cho gia đình ông trả số tiền nợ lãi phát sinh theo hợp đồng, còn số tiền nợ gốc ông trả dần.

- Bà Nguyễn Thị D trình bày: Bà là vợ của ông Quan Văn L, ngày 17/7/2019 bà và ông Quan Văn L có ký kết hợp đồng tín dụng số 8104LAV201903731 với A - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa vay số tiền 100.000.000 đồng, thời hạn vay la 36 tháng, lãi suất tiền vay là 12%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất tiền vay trong hạn, kỳ hạn trả nợ tiền gốc là 03 phân kỳ, mục đích vay vốn về xây nhà bếp và nuôi trâu sinh sản. Bà xác định chữ ký trong hợp đồng là chữ ký của bà, quá trình làm hồ sơ vay vốn bà và ông L có giao cho A - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 384554 do Ủy ban nhân dân huyện Chiêm Hóa cấp ngày 31/12/2013. Nay A - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa yêu cầu bà và ông L trả tổng số tiền là 115.594.411 đồng, trong đó nợ gốc là 100.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 09/9/2021 là 15.594.411 đồng. Do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên bà và ông L chưa có điều kiện trả toàn bộ số tiền như A - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa yêu cầu. Bà nhất trí trả dần số tiền nợ gốc và lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng.

A - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa có đơn xin xử vắng mặt yêu cầu ông Quan Văn L và bà Nguyễn Thị D có nghĩa vụ thanh toán cho A - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa tổng số tiền 126.597.260 đồng, trong đó: Nợ gốc là 100.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 30/6/2022 là 26.597.260 đồng (trong đó: Nợ lãi trong hạn là 25.117.808 đồng, nợ lãi quá hạn là 1.479.452 đồng) và phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 8104LAV201903731 ngày 17/7/2019.

Ông Quan Văn L và bà Nguyễn Thị D vắng mặt tại phiên tòa không có lý do (đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần) và cũng không có văn bản thể hiện ý kiến gì khác ngoài biên bản lấy lời khai.

* Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử, trình tự tố tụng tại phiên tòa. Việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự, tuy nhiên bị đơn ông L, bà D đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 3 Điều 26, các Điều 143, 144, 147, 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 280 288, 290, 463, 466 của Bộ luật dân sự; các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng và Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của A - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa: Buộc ông Quan Văn L và bà Nguyễn Thị D phải liên đới trả cho A - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa tổng số tiền 126.597.260 đồng, trong đó: Nợ gốc là 100.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh tính đến ngày 30/6/2022 là 26.597.260 đồng (trong đó: Nợ lãi trong hạn là 25.117.808 đồng, nợ lãi quá hạn là 1.479.452 đồng), cụ thể chia ra:

- Ông Quan Văn L có trách nhiệm trả cho A - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa tổng số tiền nợ gốc và lãi là: 63.298.630 đồng. Trong đó, số tiền nợ gốc là 50.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 30/6/2022 là 13.298.630 đồng. Ông Quan Văn L tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 8104LAV201903731 từ ngày 01/7/2022 cho đến khi trả hết nợ vay.

- Bà Nguyễn Thị D có trách nhiệm trả cho A - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa tổng số tiền nợ gốc và lãi là: 63.298.630 đồng. Trong đó, số tiền nợ gốc là 50.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 30/6/2022 là 13.298.630 đồng. Bà Nguyễn Thị D tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 8104LAV201903731 từ ngày 01/7/2022 cho đến khi trả hết nợ vay.

* Về án phí và quyền kháng cáo: Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

A - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa có đơn khởi kiện yêu cầu ông Quan Văn L và bà Nguyễn Thị D có nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng số 8104LAV201903731 ngày 17/7/2019. Do vậy xác định quan hệ pháp luật là Tranh chấp hợp đồng dân sự (hợp đồng tín dụng)” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông Quan Văn L và bà Nguyễn Thị D có hộ khẩu thường trú và hiện đang sinh sống tại Thôn BC, xã TM, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, vì vậy Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa đã tiến hành xác minh ông Quan Văn L và bà Nguyễn Thị D có hộ khẩu thường trú tại Thôn BC, xã TM, huyện Chiêm Hóa. Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ, thực hiện các thủ tục niêm yết, tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật: Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập phiên tòa lần 1, lần 2. Tuy nhiên ông L và bà D đều vắng mặt không có lý do, A - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa có đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa quyết định xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ A - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa xuất trình và lời khai của các bị đơn xác định ngày 17/7/2019 ông Quan Văn L và bà Nguyễn Thị D có ký kết vay vốn với A - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa tại Hợp đồng tín dụng số 8104LAV201903731. Việc ký kết hợp đồng tín dụng giữa A và ông Quan Văn L, bà Nguyễn Thị D trên cơ sở tự do, tự nguyện thỏa thuận, nội dung và hình thức không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên Hợp đồng phát sinh hiệu lực.

[2.1] Về khoản nợ gốc: Theo Hợp đồng tín dụng số 8104LAV201903731 ngày 17/7/2019 đã ký kết giữa A - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa và ông Quan Văn L, bà Nguyễn Thị D thì ngày 27/5/2020 A - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa đã giải ngân khoản vay cho ông L, bà D tại Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ số 8104LDS202003920 số tiền vay là 100.000.000 đồng, thời hạn vay là 36 tháng, kể từ ngày ký hợp đồng. Lãi suất tiền vay là 12%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất tiền vay trong hạn (khoản vay không có tài sản bảo đảm). Khoản vay trên của ông L, bà D chia làm 03 phân kỳ trả nợ gốc và kèm theo lãi phát sinh hàng tháng, cụ thể:

- Kỳ 1, ngày 27/5/2021 số tiền nợ gốc phải trả là 20.000.000 đồng.

- Kỳ 2, ngày 27/5/2022 số tiền nợ gốc phải trả là 30.000.000 đồng.

- Kỳ 3, ngày 27/5/2023 số tiền nợ gốc phải trả là 50.000.000 đồng.

Khi gần đến thời hạn trả nợ A - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa đã gửi giấy báo nợ đến hạn ngày 20/5/2021 để nhắc nhở, đôn đốc ông L, bà D thực hiện trả nợ theo thỏa thuận trong Hợp đồng, tuy nhiên đến ngày 27/5/2021 ông L và bà D không thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền gốc và lãi theo đúng thỏa thuận quy định trong hợp đồng. A - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa đã chuyển số nợ vay của ông L, bà D sang nợ quá hạn (thể hiện tại thông báo chuyển nợ quá hạn ngày 28/5/2021; biên bản kiểm tra xử lý nợ quá hạn ngày 06/6/2021, ngày 27/6/2021, ngày 08/8/2021, ngày 25/8/2021 và ngày 09/9/2021).

Quá trình thực hiện ông Quan Văn L và bà Nguyễn Thị D đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc theo Hợp đồng tín dụng nên A - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa yêu cầu buộc ông Quan Văn L và bà Nguyễn Thị D phải liên đới trả toàn bộ số tiền vay còn nợ là 100.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận [2.2] Về khoản nợ lãi: Theo thỏa thuận quy định trong Hợp đồng thì lãi suất tiền vay tại thời điểm ký kết hợp đồng thì Lãi suất tiền vay là 12%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất tiền vay trong hạn. Tính đến thời điểm ngày 30/6/2022 thì ông Quan Văn L và bà Nguyễn Thị D còn nợ tổng số tiền lãi là 26.597.260 đồng, (trong đó: Nợ lãi trong hạn là 25.117.808 đồng, nợ lãi quá hạn là 1.479.452 đồng). Xét thấy về lãi suất trong hạn, lãi quá hạn đã được các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng là phù hợp với Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng nên cần chấp nhận yêu cầu của A - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa, buộc ông Quan Văn L và bà Nguyễn Thị D phải trả số tiền lãi còn nợ lãi theo Hợp đồng tín dụng như đã nêu trên cho A - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa.

Hội đồng xét xử thấy rằng yêu cầu khởi kiện của A - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa là có cơ sở, phù hợp với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, do vậy căn cứ Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; các Điều 280, 288, 290, 463, 466 Bộ luật dân sự, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của A - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa, buộc ông Quan Văn L và bà Nguyễn Thị D phải liên đới trả cho A - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa tổng số tiền nợ gốc và lãi là 126.597.260 đồng, trong đó: Nợ gốc là 100.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh tính đến ngày 30/6/2022 là 26.597.260 đồng (Nợ lãi trong hạn là 25.117.808 đồng, nợ lãi quá hạn là 1.479.452 đồng), cụ thể:

- Ông Quan Văn L có trách nhiệm trả cho A - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa tổng số tiền nợ gốc và lãi là: 63.298.630 đồng, (trong đó, số tiền nợ gốc là 50.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 30/6/2022 là 13.298.630 đồng).

[2.3] Đối với yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh từ ngày 30/6/2022 cho đến khi ông Quan Văn L và bà Nguyễn Thị D trả hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Xét yêu cầu này là phù hợp với thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết cũng như theo quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng, nên cần được chấp nhận.

[3] Về án phí và quyền kháng cáo:

Căn cứ các Điều 143, 144, 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Ông Quan Văn L và bà Nguyễn Thị D phải liên đới chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 6.329.863 đồng, chia ra ông Quan Văn L phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 3.164.932 đồng, bà Nguyễn Thị D phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 3.164.932 đồng.

Trả lại cho A - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 143, 144, 147, 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 280, 288, 290, 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụngNghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" đối với ông Quan Văn L và bà Nguyễn Thị D:

2. Buộc ông L và bà D phải liên đới trả tổng số tiền nợ gốc và lãi là 126.597.260 đồng (Một trăm hai mươi sáu triệu năm trăm chín mươi bảy nghìn hai trăm sáu mươi đồng), trong đó: Nợ gốc là 100.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh tính đến ngày 30/6/2022 là 26.597.260 đồng cho A - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa cụ thể:

- Ông Quan Văn L có trách nhiệm trả cho A - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa tổng số tiền nợ gốc và lãi là: 63.298.630 đồng, (trong đó, số tiền nợ gốc là 50.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 30/6/2022 là 13.298.630 đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành xong, ông Quan Văn L và bà Nguyễn Thị D còn phải thanh toán cho A - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa khoản tiền lãi suất phát sinh đối với số tiền nợ gốc theo mức lãi suất các bên thỏa thuận theo Hợp đồng tín dụng số 8104LAV201903731 ngày 17/7/2019 cho đến khi thi hành xong khoản nợ.

3. Về án phí:

- Ông Quan Văn L và bà Nguyễn Thị D phải liên đới chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 6.329.863 đồng, chia ra ông Quan Văn L phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 3.164.932 đồng, bà Nguyễn Thị D phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 3.164.932 đồng.

- Trả lại cho A - Chi nhánh huyện Chiêm Hóa số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.889.860 đồng (Hai triệu tám trăm tám mươi chín nghìn tám trăm sáu mươi đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0003573 ngày 08/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

139
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng số 03/2022/DS-ST

Số hiệu:03/2022/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chiêm Hóa - Tuyên Quang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 30/06/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về