TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGÃ NĂM, TỈNH SÓC TRĂNG
BẢN ÁN 12/2025/DS-ST NGÀY 10/02/2025 VỀ TRANH CHẤP ĐÒI LẠI TÀI SẢN
Trong ngày 10 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 155/2024/TLST-DS, ngày 15 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 334/2024/QĐXXST-DS ngày 17/12/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2025/QĐST-DS ngày 10/01/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Ngô Thị N, sinh năm 1962. (có mặt) Địa chỉ: ấp Mỹ T, xã Mỹ Q, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn:
1/ Bà Võ Thúy L. (vắng mặt)
2/ Bà Dương Mỹ D. (vắng mặt) Cùng địa chỉ: ấp Mỹ T, xã Mỹ Q, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo nội dung đơn khởi kiện và tại phiên tòa nguyên đơn bà Ngô Thị N trình bày:
Nguyên vào năm 2015 bà Võ Thúy L có tham gia chơi hụi do bà có làm chủ. Trong quá trình tham gia chơi hụi thì bà L đã hốt hụi xong nhưng không đóng tiền hụi chết cho bà. Hiện các dây hụi đã mãn nhưng phía bà L vẫn không chịu đóng tiền hụi chết cho bà. Sau đó, hai bên thỏa thuận và thống nhất bà L còn nợ bà tổng số tiền hụi là 104.000.000 đồng và bà L có viết giấy tay “Biên nhận" cho bà và thừa nhận còn nợ tiền bà và ký tên vào. Đồng thời, khi đó có bà Dương Mỹ D là mẹ chồng của bà L cũng hứa sẽ cùng với bà L trả tiền cho bà và có ký tên vào biên nhận. Tuy nhiên, sau khi làm biên nhận thì bà L trả được số tiền 4.000.000 đồng thì ngưng không trả mà cứ hứa hẹn cho qua lề bà có đến đòi tiền nhiều lần nhưng không được.
Nay bà khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Võ Thúy L và bà Dương Mỹ D có trách hiệm liên đới trả cho tôi số tiền hụi còn nợ là: 100.000.000 đồng.
- Bị đơn bà Võ Thúy L và bà Dương Mỹ D vắng mặt: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, phía bị đơn bà L và bà D không có văn bản trình bày ý kiến đối với nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
- Về tố tụng:
[1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền hụi còn nợ. Đồng thời, các bị đơn có địa chỉ: tại ấp Mỹ T, xã Mỹ Q, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng nên quan hệ pháp luật tranh chấp được HĐXX xác định là “Tranh chấp đòi lại tài sản” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng theo qui định tại khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Tại phiên tòa vắng mặt các bị đơn. Tòa án đã tống đạt hợp lệ lần thứ 02 nhưng các bị đơn vẫn vắng mặt không rõ lý do. Do đó, HĐXX quyết định xét xử vắng mặt các bị đơn theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc các bị đơn trả số tiền hụi còn nợ là 100.000.000 đồng. Xét thấy, để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ nguyên đơn có cung cấp giấy thỏa thuận hụi với các bị đơn theo biên nhận thể hiện "Tôi tên Võ Thúy L có thiếu tiền hụi của bà bảy N là 104.000.000 đồng một trăm lẽ bốn triệu. Tôi hốt để làm ăn trong đó là ba chưng nhưng gì hoàng cảnh tôi bệnh còn chồng tôi đi làm hồ nên không đóng cho dì bảy N được từ năm 2015 đến nay. Tôi gởi cho dì được bốn triệu còn lại là 100.000.000 một trăm triệu tôi chưa trả. Tôi sẽ hứa chừng nào có tôi sẽ trả từ từ cho dì". Trong biên nhận còn thể hiện có chữ ký của các bị đơn. Ngoài ra, từ khi Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng các bị đơn vẫn không có văn bản trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cũng như ý kiến đối với các tài liệu nguyên đơn cung cấp. Do đó, đối với yêu cầu khởi kiện của ngyên đơn về việc buộc các bị đơn trả số tiền hụi còn nợ 100.000.000 đồng là có cơ sở nên HĐXX chấp nhận theo quy định tại Điều 166 của Bộ luật Dân sự.
[4] Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn bà Dương Mỹ D có trách nhiệm liên đới cùng với bị đơn bà Võ Thúy L trả nợ. Xét thấy, theo nguyên đơn thì bà D là mẹ chồng của bà L. Tại phiên tòa nguyên đơn khẳng định việc tham gia chơi hụi là do bị đơn bà L trực tiếp tham gia, phía bà D không có tham gia. Trong "biên nhận" nguyên đơn cung cấp mặc dù có chữ ký của bà D nhưng về nội dung không thể hiện bà D sẽ cùng có trách nhiệm với bà L trả nợ cho nguyên đơn. Ngoài ra, nguyên đơn cũng không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ để chứng minh bà D có trách nhiệm cùng với bà L trả nợ. Do đó, đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn bà Dương Mỹ D có trách nhiệm liên đới với bị đơn bà Võ Thúy L trả nợ cho nguyên đơn là không có cơ sở chấp nhận.
[5] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận một phần nên bị đơn bà Võ Thúy L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu khởi kiện được chấp nhận. Nguyên đơn phải chịu án phí đối với phần yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận. Tuy nhiên, do nguyên đơn là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí, nên HĐXX xem xét miễn án phí cho nguyên đơn theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 166 của Bộ luật dân sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 4 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Thị N.
Buộc bị đơn bà Võ Thúy L có trách nhiệm trả cho nguyên đơn bà Ngô Thị N tổng số tiền hụi còn nợ là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngô Thị N về việc buộc bị đơn bà Dương Mỹ D có trách nhiệm liên đới cùng với bị đơn bà Võ Thúy L trả nợ hụi cho bà Ngô Thị N.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn bà Võ Thúy L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
Nguyên đơn bà Ngô Thị N được miễn không phải chịu.
4. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự
Bản án về tranh chấp đòi lại tài sản số 12/2025/DS-ST
| Số hiệu: | 12/2025/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thị xã Ngã Năm - Sóc Trăng |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 10/02/2025 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về