Bản án về tội vi phạm quy định khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản số 36/2021/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NA HANG, TỈNH TUYÊN QUANG

BẢN ÁN 36/2021/HS-ST NGÀY 22/09/2021 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH KHAI THÁC, BẢO VỆ RỪNG VÀ LÂM SẢN

Ngày 22 tháng 9 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang, Tòa án nhân dân huyện Na Hang tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 33/2021/HSST ngày 06/9/2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2021/QĐXXST-HS ngày 09/9/2021 đối với các bị cáo:

1. Chúc Thông T, sinh ngày 19/8/1994; nơi sinh: Huyện NH, tỉnh TQ; nơi cư trú: Thôn N, xã S, huyện N, tỉnh T; nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; Con ông: Chúc Tạ C và bà Bàn Thị L; có vợ: Hoàng Thị P và 02 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 26/9/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 10/01/2020, bị Công an huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang xử phạt vi phạm hành chính 200.000 đồng về hành vi đánh bạc tại quyết định số 11/QĐ-XPHC.

Bị cáo hiện đang tại ngoại áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

2. Triệu Văn C, sinh ngày 12/4/1993; nơi sinh: Huyện NH, tỉnh TQ; nơi cư trú: Thôn N, xã S, huyện N, tỉnh T; nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; Con ông: Triệu Trồng N và bà Bàn Thị P; có vợ: Nông Thị L và 02 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 10/01/2018 bị Công an huyện Na Hang xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc tại quyết định số 12/QĐ-XPVPHC.

Bị cáo hiện đang tại ngoại áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Chúc Thông T và Triệu Văn C: Bà Hà Minh Phương – Luật sư, Văn phòng luật sư Minh Phúc thuộc Đoàn luật sư tỉnh Tuyên Quang (Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý). Có mặt.

- Bị hại: Ban Quản lý rừng phòng hộ N; người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Thu H – Chức vụ: Giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Văn T – Viên chức, Quản lý Bảo vệ rừng viên (Văn bản ủy quyền số 38/BQL-HC, ngày 15/9/2021). Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Triệu Càn N, sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn P, xã S, huyện N, tỉnh T. Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Chị Hoàng Thị P, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn N, xã S, huyện N, tỉnh T. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong đầu tháng 4 năm 2021, Chúc Thông T, sinh năm 1994 và Triệu Văn C, sinh năm 1993, rủ nhau đi khai thác bìu gỗ Nghiến đem bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, T lấy 01 máy cưa xăng nhãn hiệu Husqvarna 365, 01 bộ lam, xích, dao, thước dây, vam tháo lắp máy chữ T, đèn pin để vào ba lô của mình rồi cùng C góp tiền mua xăng, nhớt thải sau đó cùng nhau đi đến vị trí cây gỗ Nghiến có đặc điểm gốc cây có đường kính trung bình 130cm, thân cây cao 217cm, mọc thẳng đứng trên vách đá, phát triển bình thường, thân cây có nhiều u, bìu, T và C đã phát hiện từ trước tại lô 7, khoảnh 100A, chức năng rừng phòng hộ là rừng tự nhiên, khu vực rừng Phiêng Xá, thuộc thôn Nặm Đường, xã Sinh Long, huyện Na Hang. Đến nơi, T, C cùng nhau mang các dụng cụ trong ba lô ra lắp lam, xích xẻ, đổ xăng, nhớt thải vào máy cưa xăng. C giật dây đề nổ máy cưa xăng rồi trực tiếp đặt cưa vào phần gốc cây gỗ Nghiến ở vị trí cách mặt đá khoảng 01m, trong lúc Chản cắt gốc cây gỗ Nghiến thì T đứng quan sát C cắt, C cắt phần gốc cây được khoảng 20 phút thì đưa máy cưa cho T để T tiếp tục cắt hạ cây gỗ Nghiến, còn C thì ngồi nghỉ. Tiếp tục như vậy, T và C thay nhau cắt, chặt hạ cây gỗ Nghiến trên cho đến khi đổ xuống phía chân núi. Sau khi cây Nghiến bị cắt đổ, T, C đi xuống phần thây cây gỗ Nghiến xác định vị trí cắt các đoạn bìu ra khỏi thân cây. T, C mỗi người cắt được một đường cưa vào đoạn bìu gần phần gốc cây gỗ Nghiến thì nghỉ đi về nhà.

Khong 15 giờ ngày hôm sau, T và C tiếp tục cùng nhau đi lên vị trí cây gỗ Nghiến nêu trên để khai thác bìu gỗ Nghiến. Trong thời gian hai ngày, cả hai thay nhau dùng máy cưa xăng cắt, xẻ sơ chế tại 04 vị trí trên thân cây gỗ Nghiến được 07 đoạn bìu gỗ Nghiến, trong đó 04 đoạn bìu dạng bình phú quý có kích thước (25x40)cm và 03 đoạn bìu dạng lục bình có kích thước (65x30)cm. Sau khi sơ chế xong, T, C để lại toàn bộ 07 đoạn bìu gỗ Nghiến tại vị trí cây gỗ Nghiến bị cắt hạ rồi thu dọn đồ đạc đi về.

Khong 04 ngày sau, T, C cùng nhau đi lên vị trí cây gỗ Nghiến nêu trên vận chuyển 07 đoạn bìu gỗ Nghiến đã khai thác đem về nhà T cất giấu. Sau đó, T gọi điện thoại cho người đàn ông tên V, trú tại thị trấn N, huyện N qua số thuê bao di động 0962558234, để bán các đoạn bìu gỗ Nghiến vừa khai thác được. V đồng ý mua nhưng do không trực tiếp giao dịch được nên đã chuyển 14 triệu đồng vào tài khoản số 8105205068152 của Triệu Càn N, sinh năm 1989, trú tại thôn P, xã S, huyện N mở tại ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn và nhờ N thực hiện việc giao dịch mua bán gỗ Nghiến với T và C. Sau đó, T, C thống nhất bán 07 cục bìu gỗ Nghiến khai thác được nêu trên cho N với giá 15.000.000 đồng. N đưa trước cho T, C 5.000.000 đồng, số tiền còn lại khi nào vận chuyển chuyển hết thì trả (số tiền này T, C mỗi người chia nhau 2.500.000 đồng). Khoảng 02 giờ, ngày 24/4/2021, N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha, biển kiểm soát 22B2-343.42 đến nhà T chở 02 cục bìu gỗ nghiến (01 đoạn bìu dạng lục bình và 01 bìu dạng bình phú quý) vận chuyển đến thị trấn N để giao cho người đàn ông tên V. Đến khoảng 15 giờ, ngày 24/4/2021 tổ công tác Hạt kiểm lâm huyện Na Hang kiểm tra nơi ở của T phát hiện và thu giữ 05 cục gỗ nghiến còn lại, có tổng trọng lượng 248kg, quy đổi ra khối lượng 0,248 m3. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản, thu giữ toàn bộ tang vật và triệu tập Chúc Thông T đến trụ sở để làm việc. T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình cùng với Triệu Văn C như đã nêu trên.

- Tại biên bản khám nghiệm hiện trường, lập ngày 28/4/2021 xác định: Vị trí cây gỗ nghiến bị khai thác tại Lô 7, khoảnh 100A, chức năng rừng phòng hộ là rừng tự nhiên khu vực Phiêng Xá, thuộc thôn Nặm Đường, xã Sinh Long, huyện Na Hang (theo Bản đồ điều chỉnh phân ba loại rừng theo quyết định số 1859/QĐ-CT ngày 31/12/2016 của UBND tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2016-2020, hiện nay chưa có văn bản mới thay thế).

Khối lượng cây gỗ nghiến bị khai thác là 19,878 m3, gồm 18,937m3còn lại tại hiện trường; 0,941 m3 đã đưa ra khỏi hiện trường.

- Tại biên xác định đối tượng rừng và loài cây lập ngày 04/5/2021 xác định: Cây gỗ bị khai thác là gỗ Nghiến thuộc loài thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nhóm IIA.

- Tại kết luận định giá tài sản số 09/KLĐG-HĐĐGTSTTHS, ngày 07/6/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Na Hang kết luận: 01 cây gỗ Nghiến, nhóm IIA, bị cắt hạ, xẻ sơ chế có khối lượng 18,937m3 còn lại tại hiện trường có giá trị là 185.999.791 đồng; 05 đoạn gỗ nghiến trọng lượng 248 kg, quy đổi ra khối lượng 0,248 m3 có giá trị là 1.654.663 đồng (số lượng gỗ Nghiến thu hồi được trong tổng khối lượng 0,941 m3 đã lấy đi khỏi hiện trường).

- Tại kết luận định giá tài sản số 17/KLĐG-HĐĐGTSTTHS, ngày 03/8/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Na Hang kết luận: 0,693 m3 gỗ Nghiến nhóm IIA đã lấy đi khỏi hiện trường chưa thu hồi được có giá trị 6.806.667 đồng.

Trưc Cơ quan điều tra các bị cáo Chúc Thông T, Triệu Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của các bị cáo còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số: 34/CT-VKSNH ngày 08/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Hang truy tố các bị cáo Chúc Thông T và Triệu Văn C về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 232 của Bộ luật hình sự.

Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Hang luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX: Tuyên bố các bị cáo Chúc Thông T và Triệu Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.

Về hình phạt:

- Đề nghị căn cứ điểm d khoản 2 Điều 232 của Bộ luật hình sự; các Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự:

+ Xử phạt bị cáo Chúc Thông T từ 02 năm 10 tháng đến 03 năm 02 tháng tù.

Hạn tù tính từ ngày bị cáo vào Trại giam chấp hành án.

+ Xử phạt bị cáo Triệu Văn C từ 02 năm 09 tháng đến 03 năm tù. Hạn tù tính từ ngày bị cáo vào Trại giam chấp hành án.

Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo thuộc diện hộ nghèo và cận nghèo, không có tài sản và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về vật chứng và biện pháp tư pháp đề nghị HĐXX: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 05 đoạn gỗ Nghiến nhóm IIA có hình thù phức tạp, tổng trọng lượng 248kg.

- Tịch thu tiêu hủy: 02 chiếc đèn pin cũ; 01 vam tháo lắp chữ “T”, đầu vam gắn 01 tuýp mở bugi; 01 con dao quắm có tổng chiều dài 40,5cm, bản dao rộng nhất 06cm, chuôi dao bằng kim loại cuốn tròn rỗng bên trong; 01 chai nhựa màu trắng, nắp chai màu đỏ có dòng chữ “CocaCola”, loại chai dung tích 1,5 lít; 01 can nhựa màu trắng, nắp can màu đỏ, loại can dung tích 02 lít; 01 thước dây cuộn, nhãn hiệu “ HA. POWER”.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước ½ giá trị máy cưa xăng nhãn hiệu Husqvarna 365 màu da cam kèm 01 bộ lam máy cưa và xích xẻ của máy cưa.

- Trả lại ½ giá trị máy cưa xăng nhãn hiệu Husqvarna 365 màu da cam kèm 01 bộ lam máy cưa và xích xẻ của máy cưa cho chị Hoàng Thị P.

- Trả lại cho anh Triệu Càn N: 01 xe mô tô cũ nhãn hiệu HONDA Wave Alpha màu sơn trắng, đen, xe không có gương chiếu hậu bên phải và cần đạp khởi động xe, biển kiểm soát 22B2- 343.42, số khung RLHJA391XKY038810, số máy JA39E0894846; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO R15, màn hình cảm ứng đã bị nứt vỡ vỏ màu trắng, điện thoại lắp số thuê bao di động 0965.466.671, được niêm phong trong một phong bì kín và số tiền 9.000.000 đồng.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 5.000.000 đồng (trong đó bị cáo T giao nộp 2.500.000 đồng; bị cáo C giao nộp 2.500.000 đồng); tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 1.810.000 đồng do các bị cáo nộp để bồi thường thiệt hại tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Na Hang theo Biên lai thu tiền số:

0000888, ngày 22/9/2021 và Biên lai thu tiền số: 0000889, ngày 22/9/2021 (trong đó bị cáo T nộp 905.000 đồng, bị cáo C nộp 905.000 đồng).

- Đối với số lượng gỗ nghiến có khối lượng 18,937m3 còn lại tại hiện trường đã được bàn giao cho Ban quản lý rừng phòng hộ Na Hang quản lý nên không đề cập xử lý.

Ngoài ra đề nghị HĐXX buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Người bào chữa cho các bị cáo trình bày lời bào chữa cho các bị cáo đề nghị HĐXX xem xét các tình tiết giảm nhẹ như: Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; các bị cáo đã tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại; các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo nên cho các bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Đề nghị HĐXX căn cứ điểm d khoản 2 Điều 232 của BLHS xử phạt các bị cáo mức án thấp trong khung hình phạt là phù hợp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của các bị cáo, lời khai của những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về xem xét hành vi của các bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản xác định đối tượng rừng và loài cây, lý lịch gỗ, vật chứng thu giữ, phù hợp với kết luận định giá và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ trên có đủ cơ sở kết luận: Trong tháng 4 năm 2021 (không xác định được ngày cụ thể), tại Lô 7, khoảnh 100A, chức năng rừng phòng hộ là rừng tự nhiên khu vực Phiêng Xá, thuộc thôn Nặm Đường, xã Sinh Long, huyện Na Hang, các bị cáo Triệu Văn C, Chúc Thông T đã có hành vi khai thác trái phép 19,878 mét khối (m3) gỗ Nghiến thuộc danh mục thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nhóm IIA, có giá trị là 194.461.121 đồng.

Căn cứ vào đối tượng rừng, loài cây và khối lượng gỗ các bị cáo khai thác trái phép đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản, thuộc trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều 232 của Bộ luật hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Hang truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[2]. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế cụ thể là trong lĩnh vực quản lý rừng, gây nguy hại đến tài nguyên rừng cũng như hệ sinh thái tự nhiên, loài gỗ các bị cáo khai thác thuộc danh mục thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm cần được quan tâm, ưu tiên bảo vệ; đồng thời hành vi của các bị cáo còn gây mất ổn định an ninh trật tự tại địa phương, gây khó khăn cho công tác quản lý, bảo vệ rừng. Bản thân các bị cáo là người có đủ năng lực nhận thức, các bị cáo nhận thức được hành vi khai thác gỗ trái phép là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích vụ lợi, cần tiền chi tiêu cho bản thân các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Trong vụ án này, cả hai bị cáo cùng có ý định và cùng rủ nhau đi khai thác gỗ bán lấy tiền chi tiêu cá nhân, cùng nhau chuẩn bị các công cụ, phương tiện; khi thực hiện hành vi các bị cáo thay nhau trực tiếp khai thác gỗ, tuy nhiên giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ với nhau, không có sự phân công, sắp đặt vai trò của từng người nên các bị cáo chỉ là đồng phạm giản đơn.

Xét về nhân thân các bị cáo đều có nhân thân xấu: Bị cáo Chúc Thông T: Ngày 26/9/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 10/01/2020, bị Công an huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang xử phạt vi phạm hành chính 200.000 đồng về hành vi đánh bạc tại quyết định số 11/QĐ-XPHC. Bị cáo Triệu Văn C: Ngày 10/01/2018 bị Công an huyện Na Hang xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc tại quyết định số 12/QĐ-XPVPHC. Tuy nhiên bị cáo Chúc Thông T có nhân thân xấu hơn bị cáo C nên khi lượng hình cần xử phạt bị cáo T mức án cao hơn bị cáo C, tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.

[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo đã tự nguyện nộp tiền bồi thường khắc phục một phần hậu quả; các bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận thức pháp luật còn hạn chế; tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo nên cả hai bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS.

[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, HĐXX thấy rằng các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng nên cần xử phạt các bị cáo hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục cũng như phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn và nhận thức còn hạn chế; hoàn cảnh gia đình các bị cáo khó khăn, đều thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo; các bị cáo có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và được chính quyền địa phương nơi cư trú xác nhận nên cần xem xét giảm một phần hình phạt cho các bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật để tạo điều kiện cho các bị cáo cải tạo thành công dân có ích cho xã hội, xử phạt các bị cáo mức hình phạt khởi điểm trong phạm vi đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, có căn cứ.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo, không có tài sản có giá trị và không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6]. Về trách nhiệm dân sự:

Trước khi mở phiên tòa các bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền bồi thường 1.810.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Na Hang theo Biên lai thu tiền số: 0000888, ngày 22/9/2021 và Biên lai thu tiền số: 0000889, ngày 22/9/2021 (trong đó bị cáo T nộp 905.000 đồng, bị cáo C nộp 905.000 đồng) vì vậy cần ghi nhận việc các bị cáo tự nguyện bồi thường; đại diện bị hại đề nghị HĐXX tịch thu sung ngân sách Nhà nước đối với số tiền trên nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định.

Tại phiên tòa đại diện Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Na Hang không đề nghị các bị cáo bồi thường gì thêm, nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[7]. Về vật chứng và biện pháp tư pháp:

- Đối với 05 đoạn gỗ Nghiến nhóm IIA có hình thù phức tạp, tổng trọng lượng 248kg cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

- 02 chiếc đèn pin cũ; 01 vam tháo lắp chữ “T”, đầu vam gắn 01 tuýp mở bugi;

01 con dao quắm có tổng chiều dài 40,5cm, bản dao rộng nhất 06cm, chuôi dao bằng kim loại cuốn tròn rỗng bên trong; 01 chai nhựa màu trắng, nắp chai màu đỏ có dòng chữ “CocaCola”, loại chai dung tích 1,5 lít; 01 can nhựa màu trắng, nắp can màu đỏ, loại can dung tích 02 lít; 01 thước dây cuộn, nhãn hiệu “ HA. POWER” là các công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 máy cưa xăng nhãn hiệu Husqvarna 365 màu da cam kèm 01 bộ lam máy cưa và xích xẻ của máy cưa là công cụ bị cáo Tỉnh sử dụng vào việc phạm tội, quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định đây là tài sản chung của bị cáo Chúc Thông T và chị Hoàng Thị P, việc bị cáo T sử dụng chiếc máy cưa đi khai thác gỗ trái phép chị P không biết, chị P đề nghị HĐXX trả lại số tài sản trên cho chị nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước ½ giá trị chiếc máy cưa xăng và trả lại ½ giá trị chiếc máy cưa xăng cho chị Hoàng Thị P.

- Đối với số tiền 5.000.000 đồng (trong đó bị cáo T giao nộp 2.500.000 đồng; bị cáo C giao nộp 2.500.000 đồng) là số tiền do các bị cáo phạm tội mà có nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 xe mô tô cũ nhãn hiệu HONDA Wave Alpha màu sơn trắng, đen, xe không có gương chiếu hậu bên phải và cần đạp khởi động xe, biển kiểm soát 22B2- 343.42, số khung RLHJA391XKY038810, số máy JA39E0894846; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO R15, màn hình cảm ứng đã bị nứt vỡ vỏ màu trắng, điện thoại lắp số thuê bao di động 0965.466.671, được niêm phong trong một phong bì kín và số tiền 9.000.000 đồng là của anh Triệu Càn N, quá trình điều tra không xác định được đối tượng giao dịch, mua bán gỗ như N trình bày, các tài sản trên không liên quan đến việc khai thác gỗ trái phép của bị cáo T và C; số tiền 9.000.000 đồng N khai do người tên V chuyển tiền cho N nhờ N trả tiền mua gỗ với các bị cáo nhưng quá trình điều tra không chứng minh được người chuyển tiền cho N, N cũng chưa đưa tiền cho các bị cáo, số gỗ cất giấu tại nhà bị cáo T đã được thu hồi một phần, phần chưa thu hồi được đã được các bị cáo bồi thường đầy đủ nên cần trả lại số tài sản và số tiền 9.000.000 đồng trên cho anh Triệu Càn N.

- Số lượng gỗ nghiến có khối lượng 18,937m3 còn lại tại hiện trường đã được bàn giao cho chủ quản lý là Ban quản lý rừng phòng hộ Na Hang quản lý theo quy định thể hiện tại biên bản bàn giao gỗ bị chặt hạ trái pháp luật trong rừng tự nhiên là rừng phòng hộ ngày 29/4/2021 giữa Hạt kiểm lâm huyện Na Hang và Bản quản lý rừng phòng hộ Na Hang nên HĐXX không xem xét.

[8]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

Qua xem xét, nghiên cứu hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: Quá trình điều tra và truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật có liên quan. Khởi tố, điều tra, thu thập chứng cứ, truy tố đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[9]. Về các vấn đề khác:

Đi với hành vi vận chuyển lâm sản trái phép của Triệu Càn N, quá trình điều tra xác định hành vi của N chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Na Hang đã đề nghị Công an huyện Na Hang xử lý vi phạm hành chính theo quy định.

Đi với người đàn ông tên V, quá trình điều tra xác định họ tên là Vũ Đình V, sinh năm 1990, trú tại tổ dân phố 9, thị trấn Na Hang, huyện Na Hang. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Na Hang đã tiến hành áp dụng các biện pháp điều tra nhưng không đủ căn cứ chứng minh hành vi mua bán lâm sản trái phép giữa V và T, C, N nên không có căn cứ để xem xét, xử lý.

[10]. Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 232; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự.

- Tuyên bố bị cáo Chúc Thông T và Triệu Văn C phạm tội "Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản".

- Xử phạt bị cáo Chúc Thông T 02 (hai) năm 10 (mười) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày bị cáo vào Trại giam chấp hành án.

- Xử phạt bị cáo Triệu Văn C 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày bị cáo vào Trại giam chấp hành án.

2. Về vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 05 đoạn gỗ Nghiến nhóm IIA có hình thù phức tạp, tổng trọng lượng 248kg.

- Tịch thu tiêu hủy: 02 chiếc đèn pin cũ; 01 vam tháo lắp chữ “T”, đầu vam gắn 01 tuýp mở bugi; 01 con dao quắm có tổng chiều dài 40,5cm, bản dao rộng nhất 06cm, chuôi dao bằng kim loại cuốn tròn rỗng bên trong; 01 chai nhựa màu trắng, nắp chai màu đỏ có dòng chữ “CocaCola”, loại chai dung tích 1,5 lít; 01 can nhựa màu trắng, nắp can màu đỏ, loại can dung tích 02 lít; 01 thước dây cuộn, nhãn hiệu “ HA. POWER”.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước ½ giá trị máy cưa xăng nhãn hiệu Husqvarna 365 màu da cam kèm 01 bộ lam máy cưa và xích xẻ của máy cưa.

- Trả lại ½ giá trị máy cưa xăng nhãn hiệu Husqvarna 365 màu da cam kèm 01 bộ lam máy cưa và xích xẻ của máy cưa cho chị Hoàng Thị P.

- Trả lại cho anh Triệu Càn N: 01 xe mô tô cũ nhãn hiệu HONDA Wave Alpha màu sơn trắng, đen, xe không có gương chiếu hậu bên phải và cần đạp khởi động xe, biển kiểm soát 22B2- 343.42, số khung RLHJA391XKY038810, số máy JA39E0894846; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO R15, màn hình cảm ứng đã bị nứt vỡ vỏ màu trắng, điện thoại lắp số thuê bao di động 0965.466.671, được niêm phong trong một phong bì kín.

Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Na Hang và Chi cục thi hành án dân sự huyện Na Hang lập ngày 09/9/2021.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 5.000.000 đồng (trong đó bị cáo T giao nộp 2.500.000 đồng; bị cáo C giao nộp 2.500.000 đồng).

- Trả lại cho anh Triệu Càn N số tiền 9.000.000 đồng.

Số tiền trên hiện đang gửi tại tài khoản tạm giữ số: 3949.0.1065086.00000 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang, mở tại Kho bạc nhà nước huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang.

- Ghi nhận bị cáo Chúc Thông T và Triệu Văn C đã nộp số tiền bồi thường là 1.810.000 đồng (trong đó bị cáo T nộp 905.000 đồng, bị cáo C nộp 905.000 đồng), theo Biên lai thu tiền số: 0000888, ngày 22/9/2021 và Biên lai thu tiền số:

0000889, ngày 22/9/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang. Tịch thu toàn bộ số tiền 1.810.000 đồng nêu trên để sung vào ngân sách nhà nước.

3. Về án phí: n cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Chúc Thông T và Triệu Văn C, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

326
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội vi phạm quy định khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản số 36/2021/HS-ST

Số hiệu:36/2021/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nà Hang - Tuyên Quang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 22/09/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về