Bản án về tội trộm cắp tài sản số 42/2023/HS-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH

BẢN ÁN 42/2023/HS-ST NGÀY 07/09/2023 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 07 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2023/HSST ngày 16/8/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2023/QĐXXST-HS ngày 24/8/2023 đối với:

* Bị cáo: Từ Hữu H sinh ngày: 12/9/2005, tại xã Kỳ H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn Hoa , xã Kỳ H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: V Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Học sinh; Chức vụ, đảng phái: Quần chúng; Con ông Từ Hữu D, sinh năm 1978, nơi đăng ký HKTT: Thôn Hoa T, xã Kỳ H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (hiện đang xuất khẩu lao động tại nước ngoài), con bà Trần Thị T (Đã chết); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 29/03/2023, bị Tòa án nhân dân thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, tại Bản án số 18/2023/HSST, chưa chấp hành xong thời gian thử thách. Do tại thời điểm phạm tội, Từ Hữu H mới 17 tuổi 01 tháng 02 ngày, nên không tính là có án tích theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 107 của Bộ luật hình sự; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 01/06/2023 đến nay, tại xã Kỳ H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị N và bà Phan Thị H - Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Hà Tĩnh (Bà N vắng mặt, bà H có mặt).

* Người đại diện hợp pháp cho bị cáo và là người có quyền lợi nghĩa vu liên quan: Bà Thái Thị H, sinh năm 1939; Nghề nghiệp: Hưu trí; Trú tại: Thôn Hoa T, xã Kỳ H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt)

* Những người bị hại:

- Chị Lê Thị L, sinh năm 1993; Nghề nghiệp: Nhân viên giao hàng; Trú tại: Thôn Mỹ A, xã Cẩm Q, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt)

- Ông Lê Văn H, sinh năm 1978; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trú tại: Thôn 7, xã Cẩm Q, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt)

- Anh Lê Văn T, sinh năm 1987; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trú tại: Thôn Thành X, xã Cẩm H, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt)

- Bà Phạm Thị H, sinh năm 1973; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trú tại: Thôn Nam T, xã Cẩm T, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt)

* Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Anh Thái Quốc V, sinh năm 2008; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trú tại: Thôn Thanh S, xã Kỳ V, huyện Kỳ A, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt)

Người đại diện hợp pháp cho Thái Quốc V: Anh Thái Văn H, sinh năm 1982; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trú tại: Thôn Thanh S, xã Kỳ V, huyện Kỳ A, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt)

– Chị Phan Thị L, sinh năm 1982; Nghề nghiệp: Buôn bán phế liệu; Trú tại: Thôn Phú Đ, xã Cẩm L, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt)

- Bà Hồ Thị S, sinh năm 1967; Nghề nghiệp: Buôn bán phế liệu; Trú tại: Thôn Liên S, xã Kỳ V, huyện Kỳ A, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 01/05/2023, Thái Quốc V đến nhà gia đình Từ Hữu H chơi. Tại đây, V nói với H “Mai ta đi trộm ít cân sắt kiếm tiền ta tiêu” (ý là rủ H ngày mai đi trộm cắp tài sản về bán lấy tiền tiêu xài), H nói “Để mai coi đã” và V ngủ lại nhà H. Đến khoảng 07 giờ ngày 02/05/2023, V nói với H “Có đi nữa không H” và được H đồng ý. Sau đó, H điều khiển xe mô tô Wave, biển kiểm soát 38K1- 7... chở V đi dọc theo đường Quốc lộ 1A theo hướng từ Nam ra Bắc đến địa bàn huyện Cẩm Xuyên trộm cắp tài sản. Trong ngày 02/5/2023, Từ Hữu H và Thái Văn V đã thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản tại địa bàn xã Cẩm T, thị trấn Cẩm X và xã Cẩm Quang, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 09 giờ cùng ngày, H điều khiển xe mô tô chở Thái Quốc V đi trên đường Quốc lộ 1A, đến địa phận thôn Nam Thành, xã Cẩm T, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, H phát hiện chị Lê Thị L đang chạy xe mô tô đi giao hàng nên nói với V đi theo để tìm cơ hội trộm cắp hàng trên xe. Khi chị L dừng xe bên lề đường Quốc lộ 1A để đi bộ vào cửa hàng tạp hóa bên đường giao hàng thì H điều khiển xe chở V đi lại gần xe mô tô chị L đang dừng, V xuống xe lấy một gói hàng trong thùng hàng trên xe. Sau đó cả hai dừng xe mở gói hàng ra kiểm tra, bên trong là một hộp hàng dạng hình chữ nhật, màu trắng xanh, bên ngoài có nhiều hoa văn và chữ nước ngoài rồi cất vào cốp xe.

Kết luận định giá số 34/KL-HĐĐG ngày 29/5/2023, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cẩm Xuyên xác định: 01 bộ sản phẩm chăm sóc da nhãn hiệu DanxueniL trị giá 250.000 đồng.

Vụ thứ hai: Sau khi lấy trộm gói hàng của chị Lê Thị L, H tiếp tục điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 38K1- 7... chở V đi dọc đường Quốc lộ 1A theo hướng từ Nam ra Bắc. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi trên đường H thấy 01 xe kéo loại hai bánh của anh Lê Văn H để tại cổng chào, thuộc địa phận thôn 10, xã Cẩm Quang nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. H chở V lại gần xe chiếc kéo rồi nói V lên xe điều khiển xe mô tô, còn H xuống lấy trộm xe kéo. Sau đó, V điều khiển xe mô tô chở H ngồi phía sau kéo theo xe đi dọc theo đường Quốc lộ 1A theo hướng từ Bắc vào Nam tìm nơi tiêu thụ. Khi đi đến khu vực thuộc địa phận xã Cẩm T, huyện Cẩm Xuyên, H và V đi vào một cửa hàng mua bán phế liệu và gặp chị Phan Thị L để bán xe kéo. Khi gặp chị Lài, H nói với chị L “Em có cái xe lôi bán”, chị L hỏi “Xe kéo của ai”, H trả lời “Xe lôi của ông bà em, giờ già rồi không dùng nên đưa đi bán” nên chị Lài đồng ý mua với giá 400.000 đồng.

Kết luận định giá số 34/KL-HĐĐG ngày 29/5/2023, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cẩm Xuyên xác định: 01 xe kéo loại hai bánh, khung xe được làm bằng kim loại có kích thước 2,5 x 0,8 x 01 m (dài x rộng x cao), phần thân xe được ốp ván gỗ xung quanh, xe đã qua sử dụng trị giá 2.500.000 đồng.

Vụ thứ ba: Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, H tiếp tục điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 38K1- 7... chở V đi theo hướng từ Bắc vào Nam, trên đường Quốc lộ 1A, thuộc địa phận tổ dân phố 9, thị trấn Cẩm X, huyện Cẩm Xuyên, H thấy 01 xe kéo loại hai bánh, khung xe được làm bằng kim loại, phần thân xe được ốp ván gỗ xung quanh của anh Lê Văn T để ở bên đường. H điều khiển xe chở V đi lại gần xe kéo, H xuống xe lấy trộm xe kéo, V lên trước điều khiển xe mô tô rồi chở H ngồi phía sau xe mô tô kéo theo xe kéo đi dọc đường Quốc lộ 1A theo hướng từ Bắc vào Nam để tìm nơi tiêu thụ. Khi đi đến cửa hàng thu mua phế liệu của chị Trần Thị B thì đưa xe kéo vào bán, H nói với chị Bình “Có cái xe lôi của ông bà không dùng nữa em đưa đi bán” chị B thấy xe còn mới nên không mua. Sau đó, V điều khiển xe mô tô chở H ngồi sau kéo theo xe kéo đi dọc đường Quốc lộ 1A theo hướng từ Bắc vào Nam thì gặp một người phụ nữ (không rõ lai lịch) thu mua phế liệu ở bên đường, H hỏi người phụ nữ “Em có cái xe lôi bán” thì người phụ nữ hỏi “Xe của ai”, H trả lời “Xe của ông bà không dùng nữa nên bán và người này đồng ý mua với giá 530.000 đồng.

Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, anh Lê Văn T phát hiện bị mất xe. Khi đi đến cửa hàng thu mua phế liệu của chị Trần Thị B đã đưa hình ảnh chiếc xe kéo của mình cho chị B xem và dặn chị B nếu có ai đến bán giống xe của anh thì mua giúp hoặc giữ người đó lại rồi báo anh đến chuộc xe. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, có một phụ nữ không rõ họ tên, đưa một chiếc xe kéo đến bán với giá 1.100.000 đồng. Sau khi mua xe, chị B gọi điện cho anh T đến kiểm tra, xác nhận và đã trả cho chị B số tiền 1.100.000 đồng để chuộc xe.

Kết luận định giá số 34/KL-HĐĐG ngày 29/5/2023, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cẩm Xuyên xác định: 01 xe kéo loại hai bánh, khung xe được làm bằng kim loại có kích thước 2,5 x 01 x 01 m (dài x rộng x cao), phần thân xe được ốp ván gỗ xung quanh, xe đã qua sử dụng trị giá 4.000.000 đồng.

Vụ thứ tư: Sau khi bán được chiếc xe kéo nêu trên, H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38K1- 7... chở V đi dọc theo đường Quốc lộ 1A theo hướng từ Bắc vào Nam để tiếp tục tìm tài sản để trộm cắp. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, khi đến địa phận thôn Nam T, xã Cẩm T, huyện C, H thấy 01 chiếc xe kéo loại hai bánh, khung xe được làm bằng kim loại của chị Phạm Thị H để bên đường, không có người trông coi. H xuống lấy trộm chiếc xe kéo, V điều khiển xe mô tô chở H kéo theo xe kéo đi dọc đường Quốc lộ 1A theo hướng từ Bắc vào Nam tìm nơi tiêu thụ. Khi đi đến cửa hàng mua bán phế liệu của bà Hồ Thị S, thuộc địa phận thôn Đại Đ, xã Kỳ V, huyện Kỳ A, tỉnh Hà Tĩnh thì đưa xe kéo vào bán. H nói với bà S “Có cái xe lôi của ông bà không dùng nữa em đưa đi bán” và được bà S đồng ý mua với giá 270.000 đồng.

Kết luận định giá số 34/KL-HĐĐG ngày 29/5/2023, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cẩm Xuyên xác định: 01 xe kéo loại hai bánh, khung xe được làm bằng kim loại có kích thước 03 x 0,83 x 01 m (dài x rộng x cao), xe đã qua sử dụng trị giá 2.200.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản Từ Hữu H và Thái Quốc V đã chiếm đoạt của các bị hại Lê Thị L, Lê Văn H, Lê Văn T và Phạm Thị H là 8.950.000 đồng (Tám triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng). Số tiền H và V thu lợi bất chính là 1.200.000 đồng, do H cất giữ, cả hai đã tiêu xài chung hết 200.000 đồng, số còn lại 1.000.000 đồng H tiêu xài cá nhân hết.

Đến 16 giờ 30 phút ngày 02/5/2023, Từ Hữu H đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình và giao nộp gói mỹ phẩm đã chiếm đoạt của chị Lê Thị L và chiếc xe mô tô biển kiểm soát 38K1 -7....

Chiếc xe mô tô do Từ Hữu H sử dụng làm phương tiện phạm tội, là xe mô tô Wave, màu đỏ- đen- xám, số máy 1651551, số khung 093063, xe gắn biển kiểm soát 38K1 -7...; Giấy chứng nhận đăng ký số 009492 do Công an huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh cấp ngày 07/01/2009 mang tên Nguyễn Thị H, địa chỉ: Thị trấn Kỳ Anh, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh (Nay là phường Hưng Trí, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh). Quá trình điều tra xác định: Năm 2014, chị Nguyễn Thị H đã bán cho chị Trần Thị T (Mẹ đẻ của H), nhưng không làm thủ tục đăng ký xe. Năm 2015, chị Trần Thị T chết nên để lại chiếc xe trên cho anh Từ Hữu D (chồng chị T) quản lý, sử dụng. Năm 2019, anh D đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài nên giao lại cho bà Thái Thị H (mẹ đẻ của anh D) quản lý, sử dụng.

- Về vật chứng: Trong quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên đã thu giữ và xử lý:

+ 01 bộ sản phẩm chăm sóc da nhãn hiệu DanxueniL, thu của Từ Hữu H đã trả cho chị Lê Thị L.

+ 01 xe kéo loại hai bánh, khung xe được làm bằng kim loại có kích thước 2,5 x 0,8 x 01 m (dài x rộng x cao), phần thân xe được ốp ván gỗ xung quanh, xe đã qua sử dụng, thu của chị Phan Thị L, đã trả cho chủ sở hữu là anh Lê Văn H.

+ 01 xe kéo loại hai bánh, khung xe được làm bằng kim loại có kích thước 2,5 x 01 x 01 m (dài x rộng x cao), phần thân xe được ốp ván gỗ xung quanh, xe đã qua sử dụng, thu của anh Lê Văn T, đã trả cho chủ sở hữu anh Lê Văn T.

+ 01 xe kéo loại hai bánh, khung xe được làm bằng kim loại có kích thước 03 x 0,83 x 01 m (dài x rộng x cao), xe đã qua sử dụng, thu của bà Hồ Thị S, đã trả cho chủ sở hữu là chị Phạm Thị H.

+ 01 xe mô tô Wave, loại xe nữ màu đỏ đen xám, số máy: 1651551, số khung:

093063, xe gắn biển kiểm soát 38K1 -7..., thu của Từ Hữu H chưa xử lý.

* Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Từ Hữu H và Thái Quốc V đã cùng người đại diện hợp pháp của mình tự nguyện thỏa thuận bồi thường cho người bị hại là anh Lê Văn T số tiền 1.100.000 đồng. Từ Hữu H và người đại diện hợp pháp của mình tự nguyện bồi thường cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Phan Thị L số tiền 400.000 đồng; bà Hồ Thị S số tiền 270.000 đồng. Nay anh Th, chị L, bà S không yêu cầu gì thêm.

Sau khi nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, người bị hại chị Lê Thị L, anh Lê Văn H, bà Phạm Thị H không yêu cầu Từ Hữu H bồi thường gì thêm.

Với hành vi nêu trên, tại bản Cáo trạng số 43/CT-VKSCX ngày 15/8/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Từ Hữu H về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điểm g Khoản 1 Điều 52; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 90, Điều 91, Khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Từ Hữu H mức án từ 07 đến 09 tháng tù.

Áp dụng Khoản 2 Điều 56, Khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự, tổng hợp với hình phạt 06 tháng tù tại bản án số: 18/2023/HSST, ngày 29/3/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 13 đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.

- Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bà Thái Thị H 01 xe mô tô Wave, loại xe nữ màu đỏ đen xám, số máy: 1651551, số khung: 093063, xe gắn biển kiểm soát 38K1 - 7....

- Về án phí: Buộc bị cáo Từ Hữu H phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt.

Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với tội danh, điều luật, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, độ tuổi, điều kiện hoàn cảnh của bị cáo, giảm nhẹ cho bị cáo mức án thấp nhất có thể để bị cáo sớm chấp hành án, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử thấy rằng:

[1] Về tính hợp pháp của quyết định và hành vi của các cơ quan và những người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về hành vi phạm tội: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo là khách quan, phù hợp với Cáo trạng đã truy tố, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Trong ngày 02/5/2023, tại địa bàn trên địa bàn xã Cẩm T, thị trấn Cẩm X và xã Cẩm Q, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Từ Hữu H đã lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản của các chủ sở hữu, đã lén lút thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản (Trong đó có 01 vụ có giá trị tài sản chiếm đoạt dưới hai triệu đồng), chiếm đoạt 03 chiếc xe kéo, 01 bộ sản phẩm chăm sóc da nhãn hiệu DanxueniL của chị Lê Thị L, anh Lê Văn H, anh Lê Văn T và bà Phạm Thị H với tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 8.950.000 đồng.

Hành vi trên của Từ Hữu H đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, việc xét xử bị cáo về tội danh, điều luật như Cáo trạng đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên, quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại; Người phạm tội thành khẩn khai báo; sau khi phạm tội đã đầu thú; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, theo quy định tại Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tính đến ngày phạm tội, bị cáo Từ Hữu H (17 tuổi, 07 tháng, 20 ngày). Vì vậy, bị cáo được hưởng chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội, quy định tại Chương XII Bộ luật Hình sự.

[4] Về tính chất hành vi phạm tội và hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây dư luận xấu trong nhân dân. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản rồi có hành vi lén lút 04 lần chiếm đoạt tài sản với tổng trị giá 8.950.000 đồng. Mặt khác, Bản án hình sự sơ thẩm số: 18/2023/HSST, ngày 29/3/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đã xử phạt Từ Hữu H 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án, về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Trong thời gian thử thách của Bản án số 18/2023/HSST, bị cáo đã phạm tội mới (tội đang bị xét xử), do đó phải áp dụng Khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự buộc bị cáo chấp hành hình phạt 06 tháng tù của bản án này và tổng hợp với hình phạt của bản án đang xét xử theo quy định tại Khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự, đồng thời phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên tại phiên tòa.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại, nay các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng: Các vật chứng được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên trả lại cho chủ sở hữu theo đúng quy định của pháp luật, nên miễn xét.

Đối với chiếc xe mô tô Wave, biển kiểm soát 38K1 -7..., thu của Từ Hữu H là chiếc xe bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội. Tuy nhiên, quá trình điều tra xác định, hiện chiếc xe đang thuộc quyền quản lý của bà Thái Thị H, bị cáo Từ Hữu H tự ý lấy xe sử dụng bà Han không biết, vì vậy cần trả lại chiếc xe cho người quản lý là bà Thái Thị H.

[7] Trong vụ án này có Thái Quốc V là người khởi xướng, đồng thời là người thực hành tích cực, đã 04 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với tổng giá trị 8.950.000 đồng. Quá trình điều tra xác định: Tính đến ngày thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, Thái Quốc V (Sinh ngày 16/4/2008) mới đủ 15 tuổi, 16 ngày, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, thuộc loại tội ít nghiêm trọng. Căn cứ vào Khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự, Thái Quốc V không phải chịu trách nhiệm hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Thái Quốc V bằng hình thức “Cảnh cáo”, tại Quyết định số 04/QĐ-XPHC ngày 28/6/2023 là có căn cứ.

Đối với chị Phan Thị L, bà Hồ Thị S - người thu mua phế liệu, đã mua các tài sản do Từ Hữu H phạm tội mà có. Quá trình điều tra xác định: Việc chị L, bà S khi mua các tài sản, đều không biết đó là các tài sản do phạm tội mà có, nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Đối với chị Trần Thị B - người đã mua lại chiếc xe kéo từ một người phụ nữ (không rõ tên tuổi, địa chỉ) mà Từ Hữu H đã bán cho người phụ nữ này. Quá trình điều tra xác định: khi mua bà B không biết đó là tài sản do người khác phạm tội mà có, mặt khác khi anh Lê Văn T đi tìm chiếc xe kéo của mình bị mất trộm, đã gặp, đưa hình ảnh chiếc xe và nhờ chị B thấy có ai đến thì mua lại hoặc giữ người đó lại để anh T chuộc xe nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Đối với người phụ nữ (không rõ tên tuổi, địa chỉ) mua chiếc xe kéo của Từ Hữu H sau đó bán lại cho chị Trần Thị Bình. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Cẩm Xuyên không xác định được tên tuổi, địa chỉ của người phụ nữ này nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với bà Thái Thị H (Bà nội của Từ Hữu H) là người có quyền quản lý, sử dụng chiếc xe mô tô biển kiểm soát 38K1 -7... do Từ Hữu H sử dụng làm phương tiện phạm tội. Quá trình điều tra xác định việc H sử dụng xe mô tô để thực hiện hành vi phạm tội bà H không biết nên không có căn cứ để xử lý đối với bà H.

[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ Khoản 1 Điều 173; Điểm g Khoản 1 Điều 52; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 90, Điều 91, Khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Từ Hữu H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Từ Hữu H 07 (Bảy) tháng tù.

Áp dụng Khoản 2 Điều 56, Khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự, tổng hợp với hình phạt 06 (Sáu) tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số: 18/2023/HSST, ngày 29/3/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Buộc bị cáo Từ Hữu H phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 13 (Mười ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Khoản 1, Điểm a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại cho bà Thái Thị H (Trú tại: Thôn Hoa T, xã Kỳ H, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh) 01 (Một) xe mô tô Wave, loại xe nữ màu đỏ, đen, xám, số máy: 1651551, số khung: 093063, xe gắn biển kiểm soát 38K1 -7....

(Tình trạng, đặc điểm các vật chứng được ghi trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/8/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên và Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Xuyên)

3. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 135, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 3, Khoản 1 Điều 21, Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Từ Hữu H phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

29
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội trộm cắp tài sản số 42/2023/HS-ST

Số hiệu:42/2023/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 07/09/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về