Bản án về tội trộm cắp tài sản số 03/2023/HSST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG HÒA, TỈNH CAO BẰNG

BẢN ÁN 03/2023/HSST NGÀY 27/03/2023 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 27 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 03/2023/HSST ngày 06/02/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2023/HSST-QĐTA ngày 15/02/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 165/2023/HSST-QĐ ngày 28/02/2023 đối với bị cáo:

ĐÀM VŨ H - sinh năm 1993 Số CCCD: 004093002xxx, cấp ngày 09 tháng 5 năm 2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH - Bộ Công an.

Nơi đăng ký thường trú: xóm K, xã C, huyện Q, tỉnh Cao Bằng.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn:

12/12; Nghề nghiệp: làm ruộng; Con ông: Đàm Q, sinh năm 1966; Con bà: Hà T, sinh năm 1971; Vợ: Nguyễn X, sinh năm 1994; Có 01 con sinh năm 2015. Bị cáo là con út trong gia đình có 02 anh em.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 2020, bị cáo bị Công an xã Bế Văn Đàn, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, xử phạt tiền 1.000.000 đồng (đã thi hành ngày 29/5/2020).

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 29/11/2022, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: ơng Thế V, sinh năm 1979.

Trú tại: Tổ dân phố H, thị trấn U, huyện Q, tỉnh Cao Bằng. Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Lý Hoàng P, sinh năm 1971 Địa chỉ: Tổ dân phố 7, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt tại phiên tòa.

2. Bùi Xuân T, sinh năm 1987 Trú tại: thôn G, xã P, huyện V, tỉnh Bắc Ninh.

Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 23/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Hòa tiếp nhận tin báo của anh Lương Thế V về việc: Khoảng 07 giờ 15 phút ngày 20/11/2022, anh V có để 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX F1, biển kiểm soát 11U1-175.xx tại bờ đường gần trạm Y tế xã Độc Lập thuộc xóm Nà Pheo, xã Độc Lập, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng để đi câu cá. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, khi quay lại nơi để xe thì phát hiện chiếc xe mô tô đã bị mất trộm cùng với một số giấy tờ để trong cốp xe, gồm: 01 thẻ căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe mang tên Lương Thế V và 01 Giấy đăng ký xe mô tô mang tên Lương Thị L (Vợ của anh V).

Sau khi tiếp nhận tin báo Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Hòa đã tiến hành điều tra, xác minh và xác định Đàm Vũ H là người thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe trên.

Ngày 29/11/2022, Đàm Vũ H biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên đã tự nguyện đến Cơ quan Công an huyện Quảng Hòa để đầu thú và khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau:

Khong 10 giờ ngày 20/11/2022, H đứng đợi xe khách tại ngã ba Pác Cam, thị trấn Quảng Uyên để đi về nhà nhưng không có xe nên H đã xin đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông không quen biết về đến xóm Nà Pheo, xã Độc Lập, huyện Quảng Hòa thì xuống xe và tiếp tục đi bộ về (do người đàn ông rẽ vào đường đi xã Bình Lăng cũ). Khi H đi bộ vượt qua trạm Y tế xã Độc Lập được khoảng 100m (mét) thì thấy chiếc xe mô tô trên để ở cạnh đường bên phải theo chiều đi của mình. Hiệp đến xem thấy cốp xe không khóa, mở ra kiểm tra bên trong có giấy tờ xe nên nảy sinh ý định trộm cắp. H dắt chiếc xe trên về hướng thị trấn Quảng Uyên, đi được một đoạn H mượn của một người đàn ông không quen biết một chiếc tua vít tháo ổ khóa xe để đấu tắt điện. Sau khi tháo xong, H trả lại tua vít rồi khởi động xe và điều khiển xe theo hướng thị trấn Quảng Uyên rồi đi thị trấn Hòa Thuận, huyện Quảng Hòa. Khi đến đến quán sửa xe máy của ông Lý Hoàng P ở tổ dân phố 7, thị trấn Hòa Thuận Hiệp để thay ổ khóa mới, nhưng do không đủ tiền trả nên H để lại thẻ căn cước công dân của mình cho ông P rồi điều khiển xe đến quán cơm “Hà Cử” ăn cơm và ngồi đợi xe khách đi tỉnh Bắc Ninh để tiêu thụ xe. Khoảng 20 giờ cùng ngày, H lấy chiếc xe mô tô lên xe khách Thành Luân đi Bắc Ninh, khi đến huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, H xuống xe và đi tìm nơi bán xe. Đến khoảng 07 giờ ngày 21/11/2022, H điều khiển xe đến cửa hàng mua bán xe máy “Hà Trường” thuộc thôn Giang Liễu, xã Phương Liễu, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh bán xe cho anh Bùi Xuân T, sinh năm 1987 (chủ cửa hàng) với giá 12.000.000 đồng và sử dụng tên “Lương Thế V” để giao dịch. Sau mấy ngày khi đã tiêu xài hết số tiền bán xe có được, H quay về nhà và đến ngày 29/11/2022, H tự mình đến Công an huyện Quảng Hòa đầu thú.

Sau khi tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Hòa đã tiến hành trích xuất, dẫn giải Đàm Vũ H đến cửa hàng xe máy “Hà Trường” huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Qua kiểm tra Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 giấy biên nhận bán xe thể hiện: Ngày 21/10/2022, người bán xe tên Lương Thế V, địa chỉ: Hòa Nam, thị trấn U, huyện Q, tỉnh Cao Bằng; số Căn cước công dân: 00407900xxx, ngày cấp 07/4/2021, nơi cấp: Cục cảnh sát; bán chiếc xe máy Honda, loại Wave, biển kiểm soát 11U1-175.xx, giấy tờ xe mang tên Lương Thị L, địa chỉ: Hòa Nam, thị trấn U, huyện Q, tỉnh Cao Bằng bán cho Bùi Xuân T với giá 12.000.000 đồng.

Bùi Xuân T khai nhận, khi mua xe với Đàm Vũ H dù biết xe không chính chủ nhưng trong khi giao dịch H dùng tên Lương Thế V và cung cấp Thẻ căn cước công dân, Giấy tờ đăng ký xe mang tên Lương Thị L và nói là xe của vợ do cần tiền nên bán. Do H có đủ giấy tờ nên anh T đã mua xe với giá 12.000.000 đồng và có làm giấy tờ mua bán. Sau đó, anh T đã bán lại chiếc xe cho một người không rõ tên tuổi, địa chỉ nên hiện nay không xác định được chiếc xe đang ở đâu. Ngày 10/01/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Hòa đã ra quyết định truy tìm đối với chiếc xe trên.

Ngày 21/12/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành kiểm tra, xác minh tại cửa hàng sửa xe máy của ông Lý Hoàng P tại tổ dân phố 7, thị trấn H , huyện Q, tỉnh Cao Bằng và thu giữ 01 (một) thẻ căn cước công dân mang tên Đàm Vũ H, số 004093002xx cấp ngày 09/5/2021. Quá trình xác minh ông P cho biết, chiều ngày 20/11/2022 ông được thay ổ khóa mới cho xe Wave RSX với giá 250.000 đồng do Đàm Vũ H không đủ tiền trả nên đã để lại thẻ căn cước công dân trên và nói sau này sẽ quay lại lấy.

Ngày 24/11/2022 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Hòa đã ra quyết định yêu cầu định giá tài sản là chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX F1, biển kiểm soát 1101 - 175.23 Theo bản Kết luận định giá tài sản số 27 ngày 24/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Quảng Hòa, kết luận: “01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX F1, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát:

11U1-175.23, xe cũ đã qua sử dụng, đăng ký lần đầu ngày 18/12/2020. Tại thời điểm định giá, giá trị còn lại của tài sản là 21.600.000 đồng”.

Đi với Bùi Xuân T khi mua xe với Đàm Vũ H có đủ giấy tờ, không biết tài sản có nguồn gốc trộm cắp mà có, nên đã làm giấy tờ mua xe với giá 12.000.000 đồng. Sau đó, anh T đã bán lại chiếc xe cho một người không rõ tên tuổi, địa chỉ nên hiện nay không xác định được chiếc xe đang ở đâu, nên không có căn cứ để xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Lý Hoàng P không yêu cầu được nhận lại số tiền 250.000 đồng thay ổ khoá xe cho Đàm Vũ H nên không đề nghị xem xét. Anh Bùi Xuân T cũng không có yêu cầu gì nên không đề nghị xem xét. Anh Lương Thế V yêu cầu bị cáo phải bồi thường giá trị còn lại của chiếc xe mô tô biển kiểm soát 11U1-175.xx là 21.600.000đ và 01 triệu đồng chi phí làm lại Giấy phép lái xe và Thẻ căn cước công dân của anh đã bị mất.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và luận tội bị cáo đúng như Cáo trạng số 04/CT-VKSQH ngày 06/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để tuyên bố bị cáo phạm tội: “Trộm cắp tài sản” và xử phạt từ 12 đến 18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Xem xét quyền lợi của bị hại và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, kết luận định giá và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận:

Khong 10 giờ ngày 20/11/2022 lợi dụng sự sơ hở của anh Lương Thế V trong việc quản lý tài sản nên bị cáo Đàm Vũ H đã lén lút trộm cắp 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX F1, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 11U1 – 175.xx, xe đăng ký tên Lương Thị L, xe cũ đã qua sử dụng do anh V để tại đoạn đường Km3 + 550 Tỉnh lộ 207 thuộc địa phận xóm Nà Pheo, xã Độc Lập, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng. Đến ngày 21/11/2022, H đem xe bán cho anh Bùi Xuân T chủ cửa hàng xe máy “Hà Trường” tại thôn G, xã P, huyện V, tỉnh Bắc Ninh lấy số tiền 12.000.000 đồng để ăn chơi, tiêu xài cá nhân hết. Sau đó ngày 29/11/2022 bị cáo đã tự mình ra đầu thú và thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.

Theo bản Kết luận định giá tài sản số 27 ngày 24/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Quảng Hòa, kết luận: “01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX F1, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 11U1 – 175.23, xe cũ đã qua sử dụng, đăng ký lần đầu ngày 18/12/2020. Tại thời điểm định giá, giá trị còn lại của tài sản là 21.600.000 đồng”.

Như vậy hành vi của bị cáo Đàm Vũ H đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Do đó Cáo trạng số 04/CT-VKSQH ngày 06/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự và bản luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì lười lao động, không chịu làm ăn chân chính nên đã lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác đem đi tiêu thụ lấy tiền để mua ma túy thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, chưa bồi thường cho bị hại. Vì vậy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo bị cáo và phục vụ công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có. Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định cho nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Vì vậy khi quyết định hình phạt, Tòa án sẽ xem xét cân nhắc.

[4] Kiểm sát viên đề xuất áp dụng các điều luật, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt, án phí đối với bị cáo và xem xét quyền lợi của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là có căn cứ pháp luật.

[5] Phần tranh luận: bị cáo không tranh luận và không có ý kiến gì thêm. [6] Phần nói lời sau cùng: bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội sửa lỗi lầm, sớm trở về với gia đình.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra ông Lý Hoàng P và anh Bùi Xuân T không yêu cầu, tại phiên tòa hai người tiếp tục vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản nêu ý kiến để gửi cho Tòa án cho nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Tại phiên tòa anh Lương Thế V yêu cầu bị cáo phải bồi thường giá trị còn lại của chiếc xe là 21.600.000,đ và 01 triệu đồng chi phí làm lại Giấy phép lái xe và Thẻ căn cước công dân bị mất. Tại phiên tòa bị cáo nhất trí bồi thường theo yêu cầu của bị hại, nhưng chưa có tiền trả cho bị hại. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của bị hại và sự nhất trí của bị cáo về vấn đề bồi thường là có căn cứ cần chấp nhận.

[8] Về xử lý vật chứng của vụ án: 01 (một) thẻ căn cước công dân mang tên Đàm Vũ H, số 004093002xxx cấp ngày 09/5/2021 đã được cơ quan cảnh sát điều tra trả lại cho bị cáo, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136, Điều 331 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584, 585 và 589 của Bộ luật Dân sự; Điều 21, Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Đàm Vũ H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Đàm Vũ H 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 29/11/2022.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo Đàm Vũ H phải bồi thường cho anh Lương Thế V (địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn U, huyện Q, tỉnh cao Bằng) số tiền 21.600.000,đ (Hai mươi mốt triệu sáu trăm nghìn đồng) và 01 triệu đồng chi phí làm lại Giấy phép lái xe và Thẻ căn cước công dân. Tổng cộng là 22.600.000đ (Hai mươi hai triệu sáu trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, khi bị hại có đơn yêu cầu thi hành án hợp lệ, nếu bị cáo chậm thanh toán thì sẽ phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất chậm trả tiền được xác định theo thoả thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2017, nếu không có thoả thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2017 và theo quy định của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

3. Về án phí: Buc bị cáo Đàm Vũ H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.130.000đ (Một triệu một trăm ba mươi nghìn đồng) án phí dân sự có giá ngạch (22.600.000đ x 5%) trong vụ án hình sự để sung ngân sách nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo, bị hại, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

"Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự".

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

119
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội trộm cắp tài sản số 03/2023/HSST

Số hiệu:03/2023/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Quảng Hòa - Cao Bằng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 27/03/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về