Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 74/2023/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 74/2023/HS-ST NGÀY 25/09/2023 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 25/9/2023, tại Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 75/2023/TLST-HS ngày 13/9/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2023/QĐXXST-HS ngày 13/9/2023 đối với bị cáo:

Mùa A S, sinh năm 1998 tại xã M, huyện S, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản N, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La; số định danh cá nhân: 014098xxxxxx; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mùa A S và bà Giàng Thị V; có vợ là Hạng Thị D và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2020, con nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không có; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/6/2023 cho đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hi 03 giờ 30 phút, ngày 11/6/2023, tổ công tác Công an huyện Sốp Cộp phối hợp với Công an xã V, Công an xã M làm nhiệm vụ tại khu vực bản N, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La, phát hiện và bắt quả tang Mùa A S về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ là 47 viên nén màu hồng (gồm: 01 túi nilon màu hồng chứa 09 viên để trong hòm tôn đầu giường ngủ của Sò, 01 túi nilon màu hồng chứa 01 viên dưới chiếu cuối giường ngủ, 01 túi nilon màu xanh chứa 37 viên để ở đầu giường ngủ), 01 tẩu tự chế bằng nhựa dùng để sử dụng ma túy; 01 bật lửa gas màu đỏ và 02 túi nilon màu xanh.

Ngày 11/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sốp Cộp đã bóc mở niêm phong, cân tịnh lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng. Kết quả cân tịnh:

- Cân tách bì 09 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 0,82 gam, lấy 05 viên có khối lượng 0,45 gam làm mẫu giám định, ký hiệu S, còn lại 04 viên có khối lượng 0,37 gam lưu kho, ký hiệu S1.

- Cân tách bì 01 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 0,10 gam, lấy toàn bộ làm mẫu giám định ký hiệu S2.

- Cân tách bì 37 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 3,36 gam, lấy 05 viên có khối lượng 0,45 gam làm mẫu giám định, ký hiệu S3, còn lại 32 viên có khối lượng 2,91 găm lưu kho, ký hiệu S4.

Kết luận giám định số 1478/KL-KTHS ngày 13/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu S, S2, S3 là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định S=0,45 gam, S2 = 0,10 gam, S3=0,45 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 4,28 gam; loại Methamphetamine”.

Trong quá trình điều tra, Mùa A S đã khai nhận hành vi phạm tội như sau: Khoảng đầu tháng 6/2023, S từ nhà đem theo số tiền 1.000.000 đồng để đi tìm mua ma túy về sử dụng. S đã hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Mông, không quen biết tại khu vực cuối bản N, xã M, huyện S 60 viên hồng phiến được đựng trong 01 túi nilon màu hồng với số tiền 1.000.000 đồng. Sau đó, S mang về nhà chia ra thành nhiều gói đựng trong các túi nilon cất giấu trên giường ngủ của mình để sử dụng dần. S đã sử dụng hết 13 viên, còn lại 47 viên.

Bản Cáo trạng số 53/CT-VKSSC ngày 12/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, truy tố bị cáo Mùa A S về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo khai nghiện ma túy từ năm 2021 và thừa nhận hành vi như nội dung Cáo trạng. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Mùa A S về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 42 đến 48 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo, phong bì đựng vật chứng, 2 túi nilon, 01 tẩu tự chế và 01 bật lửa ga. Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Ý kiến của bị cáo: Nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

2 [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Sốp Cộp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo: Ngày 11/6/2023, bị cáo Mùa A S bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép 4,28gam Methamphetamine để sử dụng cho bản thân. Bị cáo khai nguồn gốc ma túy là mua của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết tại khu vực bản N, xã M với giá 1.000.000 đồng từ đầu tháng 6/2023. Lời khai của bị cáo là thống nhất trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc tàng trữ, sử dụng ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do nghiện nên bị cáo vẫn thực hiện. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp truy tố bị cáo đã về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, cần áp dụng hình phạt nghiêm minh để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung theo đề nghị của Viện kiểm sát.

[4] Về đối tượng có liên quan, bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ của người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo. Ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh. Do vậy không có cơ sở để điều tra, xử lý và bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với khối lượng ma túy bị phát hiện bắt giữ.

[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người nghiện ma túy. Tuy nhiên, bị cáo là lao động chính trong gia đình, có ba con còn nhỏ. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai nhận tội và ăn năn hối cải về hành vi của mình. Do vậy, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.". Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo thuộc hộ nghèo, điều kiện kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: 3,28 gam Methamphetamine còn lại sau khi trừ mẫu giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy. Một bộ bàn đèn tự chế và một bật lửa là công cụ bị cáo dùng để hút ma túy, cần tịch thu tiêu hủy. Phong bì thư đựng vật chứng và túi nilon đựng ma túy là vật không còn giá trị sử dụng, cần tiêu hủy.

3 [8] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo thuộc hộ nghèo, là đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Mùa A S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý; xử phạt bị cáo Mùa A S 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/6/2023; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) phong bì thư của Công an huyện Sốp Cộp, đã được niêm phong dán kín bằng giấy dán niêm phong, một mặt phong bì ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Mùa A S, sinh năm 1998, hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, trú tại: Bản N, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La. Bên trong phong bì có chứa 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu hồng đựng ban đầu, 01 túi nilon màu trắng ký hiệu S1 có chứa 04 viên nén hình trụ tròn màu hồng có tổng khối lượng 0,37 gam, 01 túi nilon màu trắng ký hiệu S4 có chứa 32 viên nén hình trụ tròn màu hồng có tổng khối lượng 2,91 gam”.

- 01 (một) tẩu tự chế bằng chai nhựa, đã qua sử dụng; 01 (một) bật lửa ga màu đỏ, đã qua sử dụng; 02 (hai) túi nilon màu xanh.

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Mùa A S.

4. Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Mùa A S có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 25/9/2022)./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

23
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 74/2023/HS-ST

Số hiệu:74/2023/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Sốp Cộp - Sơn La
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 25/09/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về