Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý số 42/2022/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 42/2022/HS-ST NGÀY 25/05/2022 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ

Ngày 25 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 19/2022/TLST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2022/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:

Trần Văn H, tên gọi khác: không, sinh năm 1978 tại Tiền Giang. Nơi cư trú: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn L, sinh năm 1952 (chết) và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1952 (chết), bản thân có vợ tên Huỳnh Ngọc H, có 02 con lớn sinh năm 2021, nhỏ sinh năm 2022; Tiền án: Bản án số 09/HSST ngày 06/02/1999 của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xử phạt bị cáo Trần Văn H 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản công dân”; Bản án số 68/HSST ngày 14/10/1999 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang xử phạt bị cáo Trần Văn H 18 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản công dân”; Bản án số 55/HSST ngày 06/11/2001 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang xử phạt bị cáo Trần Văn H 07 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và được Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm tại Bản án số 32/HSPT ngày 16/4/2002 xử phạt bị cáo Trần Văn H 07 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 57/HSST ngày 06/11/2001 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang xử phạt bị cáo Trần Văn H 03 năm tù về tội “Trốn khỏi nơi giam” và được Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm tại Bản án số 33/HSPT ngày 16/4/2002 xử phạt bị cáo Trần Văn H 03 năm tù về tội “Trốn khỏi nơi giam”; Bản án số 08/HSST ngày 25/02/2002 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang xử phạt bị cáo Trần Văn H 06 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 116/HSST ngày 30/9/2002 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang xử phạt bị cáo Trần Văn H 04 năm tù về tội “Trốn khỏi nơi giam” và cộng với 16 năm tù theo quyết định tổng hợp hình phạt số 154/TAT ngày 11/6/2002 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo H chấp hành hình phạt chung là 20 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/02/2002, trừ đi 06 tháng 23 ngày tạm giam trước. H đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/5/2019, chưa được xóa án tích; Tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 19/4/1994, Trần Văn H bị Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc” với số tiền 50.000đ; Ngày 11/4/1996, Trần Văn H bị Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang ra Quyết định đưa vào cơ sở giáo dục, thời gian 24 tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/8/2021 cho đến nay, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Huỳnh Ngọc H1, sinh năm 1980 ĐKTT: thị trấn K, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

Chỗ ở: Số 360/1 đường P, xã P, huyện N, thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

2. Nguyễn Hải Đ, sinh năm 1982 ĐKTT: Ấp N, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).

- Người làm chứng:

1. Nguyễn Thành L1, sinh năm 1986 ĐKTT: Ấp A, xã N, huyện B, tỉnh Long An (vắng mặt).

2. Nguyễn Khương Đ, sinh năm 1979 ĐKTT: Ấp B, xã N, huyện B, tỉnh Long An (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 16/8/2021, Trần Văn H điều khiển xe mô tô kiểm soát 63B3-422.36 một mình chạy xe từ nhà của vợ là Huỳnh Ngọc H1 ở huyện N, thành phố Hồ Chí Minh đến ngã tư thuộc địa phận tỉnh Bình Phước. Tại đây, H gặp một người thanh niên tên Bò (không xác định được nhân thân, lai lịch) và trực tiếp mua 14 gói ma túy đá với số tiền 2.000.000đ với mục đích mua về để sử dụng. Sau khi mua ma túy xong, H cất giấu ma túy trong túi quần phía sau, bên trái đang mặc và chạy xe đi về huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An tìm bạn để sử dụng. Đến khoảng 15 giờ 15 phút cùng ngày, H chạy xe lưu thông trên Quốc lộ 1A đến chốt kiểm soát, phòng chống dịch Covid-19 thuộc ấp 1, xã Nhựt Chánh, huyện Bến Lức thì bị lực lượng Công an xã Nhựt Chánh kiểm tra phát hiện bắt quả tang H và tạm giữ 14 gói nylon trắng, có vạch màu xanh, hàn kín hai đầu, bên trong các gói có chứa các chất tinh thể màu trắng mà H cất giấu trong túi quần phía sau, bên trái đang mặc, H khai là ma túy; 01 xe mô tô biển kiểm soát 63B3-422.36; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 63B3- 422.36 chuyển đến cơ quan điều tra Công an huyện Bến Lức giải quyết theo thẩm quyền.

Tại bản kết luận giám định số 719/2021/KLGĐ ngày 23/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Long An kết luận: chất tinh thể trắng đựng trong 14 gói nylon hàn kín, được niêm phong là ma túy, có khối lượng 8,8885 gam, loại Methamphetamine và hoàn lại mẫu sau giám định có khối lượng 8,0021 gam, được đóng gói niêm phong số 719.

Tại cáo trạng số 33/CT-VKSBL ngày 14-3-2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức truy tố Trần Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g, o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn H hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội bị cáo thực hiện đúng như nội dung cáo trạng đã nêu. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức truy tố bị cáo Trần Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g, o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức trong phần luận tội đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hiện hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn nên xem xét giảm cho bị cáo một phần về hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm g, o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáo Trần Văn H từ 07 năm đến 08 năm tù.

Xét thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với người đàn ông tên Bò có hành vi bán ma túy cho Trần Văn H. Qua điều tra Cơ quan điều tra chưa xác định họ tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

Đối với chị Huỳnh Ngọc H1 là vợ của bị cáo H mượn xe mô tô biển số 63B3-422.36, H sử dụng làm phương tiện phạm tội chị H1 không biết, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bến Lức không xem xét trách nhiệm hình sự với chị H1 là phù hợp.

Về vật chứng:

- 01 xe mô tô biển kiểm soát 63B3-422.36; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 63B3-422.36. Qua điều tra xác định xe mô tô cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 63B3-422.36 đứng tên Nguyễn Hải Đ mà H dùng làm phương tiện mua ma túy sử dụng là tài sản riêng của vợ H là Huỳnh Ngọc H1, H1 mua xe của Đ nhưng chưa làm thủ tục sang tên nên cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chị H1 là phù hợp.

- 03 điện thoại di động hiệu Iphone đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia đã qua sử dụng và số tiền 97.000.000đ là tài sản cá nhân của H không liên quan đến việc phạm tội, hiện Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho H do chị H1 là vợ của H đại diện đã nhận xong.

- Mẫu tinh thể màu trắng còn lại sau giám định có khối lượng 8,0021 gam, được đóng gói niêm phong số 719, đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu tiêu hủy.

(Vật chứng nêu trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Lức đang tạm giữ).

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát đã nêu. Bị cáo không tranh luận, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Hải Đ, người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai đầy đủ trong quá trình điều tra và việc vắng mặt những người này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu, bản kết luận giám định chất ma túy và các chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được thẩm tra tại phiên tòa có đủ cơ sở khẳng định bị cáo Trần Văn H là đối tượng nghiện ma túy và đã phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, do cần ma túy sử dụng, khoảng 07 giờ 30 phút ngày 16/8/2021, H điều khiển xe mô tô 63B3-422.36 chạy đến ngã tư thuộc địa bàn tỉnh Bình Phước, H trực tiếp mua 14 gói ma túy, trong lượng 8,8885 gam, loại Methamphetamine với số tiền 2.000.000đ của một người thanh niên tên Bò (không rõ nhân thân, lai lịch). Sau đó cất giấu ma túy vào túi quần phía sau, bên trái đang mặc rồi chạy xe về huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An để tìm bạn sử dụng. Đến khoảng 15 giờ 15 phút cùng ngày, khi đến chốt kiểm soát, phòng chống dịch Covid-19 thuộc ấp 1, xã Nhựt Chánh, huyện Bến Lức thì bị lực lượng công an phát hiện bắt quả tang cùng tang vật. Như vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, do đó cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và đúng pháp luật, không oan.

[3] Hành vi trái pháp luật của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo cũng thừa biết ma tuý là chất độc hại, gây nghiện làm tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe, tinh thần và thể chất con người nên Nhà nước thống nhất quản lý và nghiêm cấm mua bán, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép chất ma tuý nhưng vì muốn thỏa mãn cơn nghiện nên bị cáo mua ma túy về cất giấu trái phép, mục đích để sử dụng, chứng tỏ bị cáo xem thường pháp luật, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, xâm phạm đến sức khoẻ và sự phát triển nòi giống của dân tộc, là tác nhân gây ra bệnh HIV, gây mất trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Do đó cần áp dụng hình phạt buộc cách ly xã hội đối với bị cáo trong thời gian nhất định để giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hiện hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn nên xem xét giảm cho bị cáo một phần về hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo có điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

[6] Đối với người đàn ông tên Bò có hành vi bán ma túy cho Trần Văn H. Qua điều tra Cơ quan điều tra chưa xác định họ tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

Đối với chị Huỳnh Ngọc H1 là vợ của bị cáo H cho H mượn xe mô tô biển số 63B3-422.36, H sử dụng làm phương tiện phạm tội chị H1 không biết, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bến Lức không xem xét trách nhiệm hình sự với chị H1 là phù hợp.

[7] Về vật chứng:

- 01 xe mô tô biển kiểm soát 63B3-422.36; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 63B3-422.36. Qua điều tra xác định xe mô tô cùng giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 63B3-422.36 đứng tên Nguyễn Hải Đ mà H dùng làm phương tiện mua ma túy sử dụng là tài sản riêng của vợ H là Huỳnh Ngọc H1, H1 mua xe của Đăng nhưng chưa làm thủ tục sang tên nên cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chị H1 là phù hợp không xét đến.

- 03 điện thoại di động hiệu Iphone đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia đã qua sử dụng và số tiền 97.000.000đ là tài sản cá nhân của H không liên quan đến việc phạm tội, hiện Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho H do chị H1 là vợ của H đại diện đã nhận xong không xét đến.

- Mẫu tinh thể màu trắng còn lại sau giám định có khối lượng 8,0021 gam, được đóng gói niêm phong số 719, đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu tiêu hủy.

(Vật chứng nêu trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Lức đang tạm giữ).

[8] Về án phí: Bị cáo Trần Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ điểm g, o khoản 2 Điều 249, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáo Trần Văn H 08 (tám) năm tù, thời gian tù tính từ ngày 17- 8-2021.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Văn H trong thời hạn 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày 25-5-2022 để đảm bảo kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu tiêu hủy mẫu tinh thể màu trắng còn lại sau giám định có khối lượng 8,0021 gam, được đóng gói niêm phong số 719.

(Vật chứng nêu trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Lức đang tạm giữ).

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Trần Văn H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

312
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý số 42/2022/HS-ST

Số hiệu:42/2022/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bến Lức - Long An
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 25/05/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về