Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 03/2024/HS-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG

BẢN ÁN 03/2024/HS-ST NGÀY 17/01/2024 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong ngày 17 tháng 01 năm 2024, Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai tại điểm cầu trung tâm là Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng với điểm cầu thành phần phòng hỏi cung số 01 Nhà tạm giữ Công an thành phố Cao Bằng vụ án hình sự thụ lý số: 175/2023/HSST ngày 04 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn C (Tên gọi khác: Nguyễn Sơn C); Giới tính: Nam; Sinh ngày 15 tháng 10 năm 1993 tại: Huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng; Hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Xóm Tân H, xã Cnh T, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Tày; Quốc Tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Chức vụ Đảng, chính quyền đoàn thể trước khi phạm tội: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Con ông: Nguyễn Văn D; Con bà: Nông Thị L; Vợ, con: Chưa có; Anh chị em ruột: Bị cáo là con út trong gia đình có 02 anh em; Tiền sự: Không; Tiền án:

Có 01 tiền án, ngày 20/8/2021: Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Về nhân thân: Ngày 25/01/2013: Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xử phạt 42 tháng tù về tội Cướp tài sản; Ngày 01/9/2017: Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xử phạt 18 tháng tù về tội Cướp giật tài sản; Ngày 09/6/2021: Công an huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng xử phạt Cảnh cáo về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cao Bằng từ ngày 16/8/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Triệu Văn Th (Tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam; Sinh ngày 21 tháng 9 năm 1999 tại: Xã Cnh T, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng; Hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Xóm Tân H, xã Cnh T, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Dao; Quốc Tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Chức vụ Đảng, chính quyền đoàn thể trước khi phạm tội: Không; Trình độ học vấn: 06/12 phổ thông; Con ông: Triệu Văn S(đã chết); Con bà: Lý Thị B; Vợ, con: Chưa có; Anh chị em ruột: Bị cáo là con thứ 02 trong gia đình có 02 anh em; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 07/9/2017: Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xử phạt 12 tháng tù về tội Cướp giật tài sản. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cao Bằng từ ngày 16/8/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Lục Văn L, sinh ngày: 24/6/1960; Trú tại: Xóm Tân Th, xã Cnh T, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng, vắng mặt có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 09h00’ ngày 16/8/2023 tổ công tác Công an phường Tân Giang làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 02, phường Tân Giang, thành phố Cao Bằng phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Văn C cùng Triệu Văn Th có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ 01 (một) gói giấy bạc màu vàng, bên trong có chứa chất bột màu trắng đục dạng cục lẫn bột có khối lượng 0,13g (không phẩy một ba gam) do C tự giác giao nộp; 01 (một) điện thoại di động màu tím đen có chữ Nokia đã qua sử dụng, số seri: 351948050868491; 01 (một) xe mô tô Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 11B1-xxxxx đã qua sử dụng.

Ngày 17/8/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng ra Quyết định trưng cầu giám định số 291 đối với vật chứng của vụ án. Tại bản kết luận giám định số 431/KL-KTHS ngày 24/8/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận "mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Heroine".

Quá trình điều tra xác định được như sau: Chiều 15/8/2023, Nguyễn Văn C mượn xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 11B1-xxxxx của Lục Văn L (sinh ngày: 24/6/1960; trú tại: Xóm Tân Th, xã Cnh T, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng) chở Triệu Văn Th đi từ nhà tại xóm Tân H, xã Cnh T, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng đến thành phố Cao Bằng chơi. Khi đến khu vực phố Cũ thuộc phường Hợp Giang, thành phố Cao Bằng, C và T nhìn thấy Công ty môi trường đang chặt cành cây sấu nên đến xin nhặt quả thì được đồng ý. C và T cùng nhau nhặt quả sấu vào 02 (hai) bao tải rồi đem đi bán được 300.000,đ (ba trăm nghìn đồng). Sau đó C và T thống nhất với nhau sẽ sử dụng số tiền bán sấu có được để đi mua ma túy về cùng nhau sử dụng. Do trời đã tối nên cả hai đi đến một lán bỏ hoang ở khu vực dưới gầm cầu Hoằng Ngà gần Bệnh viện đa khoa tỉnh để ngủ qua đêm.

Đến khoảng 07h00’ ngày 16/8/2023 C điều khiển xe mô tô 11B1-xxxxx chở T đi đến khu vực Km7 xã Chu Trinh, thành phố Cao Bằng. Tại đây, C thấy một người đàn ông lạ mặt trông giống người nghiện nên dừng xe cách người đó khoảng 03m. T đợi ở chỗ đỗ xe còn C đi bộ đến gần người đàn ông đó, lấy 300.000,đ (ba trăm nghìn đồng) tiền C, T bán sấu có được và 200.000,đ (hai trăm nghìn đồng) của bản thân gộp lại hỏi mua với người đàn ông đó 500.000,đ (năm trăm nghìn đồng) Heroine. Người đàn ông đó đồng ý, nhận tiền rồi lấy từ trong người ra đưa cho C 01 (một) gói giấy bạc màu vàng, bên trong chứa Heroine. Sau khi mua được Heroine, C quay lại chỗ T đợi rồi điều khiển xe mô tô chở T đi tìm nơi sử dụng, khi đi đến khu vực tổ 02, phường Tân Giang, thành phố Cao Bằng thì bị lực lượng Công an phường Tân Giang phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu ở trên.

Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave màu đen, biển kiểm soát 11B1-xxxxx, quá trình điều tra xác định được là của Lục Văn L cho C mượn. Ông L không biết C sử dụng để đi mua ma túy. Xét thấy không ảnh hưởng tới việc giải quyết vụ án, ngày 02/11/2023, Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho ông L.

Tại bản cáo trạng số: 176/CT - VKSTP, ngày 30 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn C, Triệu Văn Th về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo Nguyễn Văn C, Triệu Văn Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Tại bản khai tại cơ quan điều tra và đơn xin xét xử vắng mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lục Văn L xác nhận: Chiều 15/8/2023, ông có được cho Nguyễn Văn C là hàng xóm cạnh nhà mượn xe mô tô Honda Wave biển kiểm soát 11B1-xxxxx, việc C lấy xe của ông đi thực hiện hành vi mua ma túy về tàng trữ nhằm mục đích sử dụng thì ông không biết và không cho phép, nay Cơ quan điều tra đã làm rõ và trả lại xe cho ông nên ông không có ý kiến hay yêu cầu gì thêm.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn C; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Triệu Văn Th. Đề nghị HĐXX tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn C, Triệu Văn Th đều phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 18 21 tháng tù, Triệu Văn Th từ 13 - 16 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Do người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lục Văn L đã nhận lại tài sản và không có ý kiến hay yêu cầu gì thêm nên không đề nghị HĐXX xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự xử:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi số 431/KL-KTHS, hoàn mẫu sau giám định vụ Nguyễn Văn C, Triệu Văn Th có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong cùng con dấu của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng, kèm kết luận giám định ma túy số 431/KL-KTHS ngày 24/8/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng. Vì đây là vật chứng nhà nước cấm lưu hành;

Trả lại cho bị cáo C 01 điện thoại di động, có chữ Nokia, vỏ màu tím đen, số seri: 351948050868491, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Vì đây là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo;

Về án phí: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 135 Của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử buộc các bị cáo phải chịu nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận các bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với bản luận tội của kiểm sát viên về tội danh và hình phạt. Khi được nói lời sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn C, Triệu Văn Th đều khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy Heroine của bản thân. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa qua đó đã chứng minh được: Hồi 09h00’ngày 16/8/2023 tổ công tác Công an phường Tân Giang làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 02, phường Tân Giang, thành phố Cao Bằng phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Văn C và Triệu Văn Th có hành vi tàng trữ trái phép 01 (một) gói Heroine có khối lượng 0,13g (không phẩy một ba gam) với mục đích sử dụng cho bản thân.

Hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn C, Triệu Văn Th đã cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự;

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a). ...

c). Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR- 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

d). ..." Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng truy tố các bị cáo Nguyễn Văn C, Triệu Văn Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được Heroine là dạng ma túy Nhà nước độc quyền quản lý và nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán, chiếm đoạt và sử dụng trái phép nhưng các bị cáo vẫn thực hiện hành vi với lỗi cố ý nhằm mục đích phục vụ bản thân. Do đó, các bị cáo đều phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn C, đã bị kết án, chưa được xóa án tích lại phạm tội với lỗi cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "tái phạm" quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra các bị cáo đã khai báo thành khẩn nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[6] Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử xét thấy: Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, và đều có nhân thân xấu. Bị cáo C vừa chấp hành án phạt tù xong trở về địa phương chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý, là người thực hành trực tiếp đi mua ma túy và ngoài số tiền chung là 300.000đ thì bị cáo đã bỏ thêm tiền túi của bị cáo 200.000đ để đi mua ma túy, thể hiện thái độ coi thường pháp luật. Do đó, để đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc trên mức khởi điểm của khung hình phạt đối với cả hai bị cáo và hình phạt của bị cáo C phải cao hơn hình phạt của bị cáo T thì mới tương xứng với tính chất , mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội trong một thời gian nhất định để các bị cáo có thời gian cai nghiện ma túy, suy nghĩ, cải tạo bản thân, từ đó, nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm nói chung và tội phạm ma túy nói riêng.

[7] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo đều là người nghiện ma túy, không có công ăn việc làm, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lục Văn L đã nhận lại tài sản và không có ý kiến hay yêu cầu gì thêm nên HĐXX không đặt vấn đề xem xét.

[9] Về việc xử lý vật chứng:

+ Đối với 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi số 431/KL-KTHS, hoàn mẫu sau giám định vụ Nguyễn Văn C, Triệu Văn Th có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong cùng con dấu của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng, kèm kết luận giám định ma túy số 431/KL-KTHS ngày 24/8/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng. Đây là vật chứng nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy;

+ Đối với 01 điện thoại di động, có chữ Nokia, vỏ màu tím đen, số seri: 351948050868491, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Đây là tài sản của bị cáo C, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo.

[10] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn C, Triệu Văn Th đều thuộc trường hợp phải chịu nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung Ngân sách Nhà nước.

[11] Đối với người người đàn ông không quen biết bán ma túy cho các bị cáo C, T. Việc trao đổi mua bán ma túy không có ai biết, chứng kiến, do vậy cơ quan điều tra không có căn cứ để mở rộng điều tra, xử lý.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về điều luật áp dụng:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn C;

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Triệu Văn Th;

2. Về tội danh: Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn C, Triệu Văn Th đều phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

3. Về hình phạt: Xử phạt:

- Bị cáo Nguyễn Văn C 20 (hai mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, ngày 16/8/2023.

- Bị cáo Triệu Văn Th 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, ngày 16/8/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự xử:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi số 431/KL-KTHS, hoàn mẫu sau giám định vụ Nguyễn Văn C, Triệu Văn Th có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong cùng con dấu của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng, kèm kết luận giám định ma túy số 431/KL-KTHS ngày 24/8/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng.

Trả lại cho bị cáo C 01 điện thoại di động (loại bàn phím), có chữ Nokia, vỏ màu tím đen, số seri: 351948050868491, điện thoại cũ đã qua sử dụng, các chữ số của bàn phím điện thoại đã bị mờ, điện thoại không có nắp sau.

Toàn bộ vật chứng trên hiện đang được lưu tại kho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo biên bản giao nhận vật chứng số 29 ngày 05/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng.

5. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử buộc các bị cáo Nguyễn Văn C, Triệu Văn Th mỗi bị cáo phải chịu nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung Ngân sách Nhà nước.

6. Về thực hiện quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự các bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 17/01/2024. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

56
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy số 03/2024/HS-ST

Số hiệu:03/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Cao Bằng - Cao Bằng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 17/01/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về