TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC THỌ - TỈNH HÀ TĨNH
BẢN ÁN 42/2022/HSST NGÀY 30/09/2022 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
Trong ngày 30/9/022 tại điểm cầu trung Tâm hội trường xử án Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh kết nối với điểm cầu thành phần tại trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:
43/2022/TLST-HS ngày 16/9/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
43/2022/QĐXXST-HS ngày 19/9/2022 đối với bị cáo.
Họ và tên: Nguyễn Tiến H. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Sinh ngày 18 tháng 5 năm 1987. Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố 5, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi cư trú: Thôn T, xã Lâm T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: Lớp 9/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Nguyễn Tiến T, sinh năm 1957 và bà: Hoàng Thị H (Đã chết). Anh, chị em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ hai. Vợ: Trần Thị Thu T, sinh năm 1999; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con: Có 02 người, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2021. Hiện đều trú tại thôn T, xã L, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh.
Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân:
- Ngày 30/12/2003, bị Tòa án nhân dân tỉnh H xử phạt 36 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, theo quy định tại điểm a, d khoản 2 Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được xóa án tích).
- Ngày 22/8/2007, bị Tòa án nhân dân huyện Đ xử phạt 42 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 135 Bộ luật Hình sự năm 1999 (ngày 10/7/2015, được Tòa án nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận xóa án tích).
- Ngày 23/11/2017, bị Tòa án nhân dân huyện V xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự (đã được xóa án tích).
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/6/2022 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh, có mặt tại phiên tòa, sức khỏe bình thường và tự bào chữa.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Anh Phan Văn T, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt.
Anh Trần Văn K, sinh năm: 1984; địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt.
- Người chứng kiến: Ông Trần Xuân V, sinh năm: 1962; địa chỉ: Thôn T, xã L, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 28/6/2022, Nguyễn Tiến H bắt xe buýt từ nhà ở xã L, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh đến khu vực cầu C, thuộc phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An, mua của một người đàn ông không quen biết (làm nghề xe ôm) 100 viên ma túy với giá 2.500.000 đồng, rồi bắt xe buýt đi về nhà. Lúc này, Nguyễn Tiến H lấy 01 viên ma túy ra để sử dụng, số ma túy còn lại, Nguyễn Tiến H cất giấu trong nhà để vừa sử dụng vừa bán lại cho các đối tượng nghiện khác kiếm lời.
Đến khoảng 15 giờ ngày 29/6/2022, Phan Văn T rủ Trần Văn K cùng nhau đi mua ma túy về sử dụng, thì K đồng ý. Sau đó, Phan Văn T sử dụng số điện thoại 0707.748.629 của mình gọi vào số điện thoại 0971.881.202 của Nguyễn Tiến H nói: Bán cho em năm trăm nghìn hồng phiến, thì H đồng ý và nói: Em chuyển tiền vào tài khoản Momo, số điện thoại 0971.881.202 cho anh, rồi chạy xe lên cây xăng, gần ngã ba L thì gọi anh. Lúc này, H lấy 05 viên ma túy (trong tổng số 100 viên ma túy) đã mua trước đó cho vào trong ống hút nhựa màu trắng (loại ống hút dùng để uống nước), lấy băng dính màu đen bịt kín hai đầu ống nhựa, rồi để trong vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu 555, màu vàng. Sau đó, H đi bộ ra đường Quốc lộ 15 (gần ngã ba L) thì nhìn thấy biển quảng cáo nhà nghỉ V, nên H lấy vỏ bao thuốc lá đựng ma túy đã chuẩn bị sẵn để dưới chân cột biển quảng cáo, rồi đi bộ về nhà. Đến 16 giờ 20 phút cùng ngày, Phan Văn T gọi điện thoại cho Nguyễn Tiến H nói đã chuyển tiền vào tài khoản ví Momo của H và đang ở khu vực ngã ba L. Lúc này, H kiểm tra tài khoản Momo thấy Phan Văn T đã chuyển cho mình số tiền 490.000 đồng, nên hướng dẫn Phan Văn T chỗ cất giấu ma túy, rồi tắt máy. Sau khi mua được ma túy, Phan Văn T và Trần Văn K bắt xe Taxi của một người không quen biết, đi đến khu vực nghĩa trang thuộc thôn Đ, xã T, huyện Đ để sử dụng ma túy. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, khi Phan Văn T và Trần Văn K vừa sử dụng hết số ma túy đã mua nói trên, thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ phát hiện, lập biên bản sự việc, thu giữ 01 chai nhựa có đục lỗ; 01 tờ tiền giấy được cuộn tròn; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu 555, màu vàng; 01 ống nhựa màu trắng dài 03cm và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo V5, màu hồng (sim số 0707748629). Quá trình làm việc tại Cơ quan điều tra, Phan Văn T và Trần Văn K khai nguồn gốc số ma túy mà T và K sử dụng là mua của Nguyễn Tiến H.
Đến 20 giờ cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp, khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Tiến H tại thôn Trung Tiến, xã L, huyện Đ. Quá trình khám xét khẩn cấp, Cơ quan điều tra phát hiện, thu giữ: 01 túi nilon màu xanh, kích thước (6x10)cm, bên trong chứa 86 viên nén màu hồng và 02 viên nén màu xanh; 01 túi nilon trong suốt, kích thước (2x3)cm, được quấn băng dính màu đen bên trong chứa 05 viên nén màu hồng; 01 đầu khò có gắn với bình ga mini; 01 chai nhựa ở giữa có gắn 01 ống tre nhỏ; 01 ống hút bằng nhựa màu trắng dài 30cm; 02 bật lửa bằng nhựa, màu đỏ; 01 cuộn băng dính màu đen; 01 đoạn ống thủy tinh trong suốt dài 18cm;
01 cân tiểu ly kích thước (6x6)cm, đã hỏng; 03 mảnh giấy thiếc, kích thước (1,5x1,5)cm; 10 túi nilon trong suốt, kích thước (1,5x1,5)cm; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel, màu đen (sim số 0829803345 và 0912.177.680; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart vos 4.0, màu xanh (sim số 0971881202); 01 chiếc áo khoác nắng, màu xanh đen, bên trong túi áo phía dưới bên phải có 01 viên nén màu hồng.
Tại bản Kết luận giám định ma túy số 689/KL-KTHS ngày 04/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh, kết luận: 86 viên nén màu hồng là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 8,8608 gam; 05 viên nén màu hồng là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,5110 gam; 01 viên nén màu hồng là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,0928 gam. Tổng khối lượng là 9,4646 gam. 02 viên nén màu xanh có khối lượng 0,1950 gam không phải là ma túy.
Tại bản cáo trạng số 45/CTr - VKSĐT ngày 15 tháng 9 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Nguyễn Tiến H về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy ” theo quy định tại điểm i Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự .
Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm i Khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến H mức án từ 10 -11 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam bị cáo 29/6/2022.
Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2; điểm a, b, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tịch thu tiêu hủy 8,5536 gam ma túy được cho vào túi nilon trong suốt;
0,3089 gam ma túy được cho vào 01 túi ni lon trong suốt và toàn bộ các vỏ bao gói mẫu giám định là vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, không có giá trị. Tất cả các vật chứng này được đượng trong 01 phong bì thư màu trắng có dòng chữ “CÔNG AN TỈNH HÀ TĨNH, PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ”, được dán kín, trên mép có chữ ký của đối tượng và các thành viên trong Hội đồng.
+ Tịch thu tiêu hủy 01 đầu khò gắn với bình ga mini; 01 bộ dụng cụ sử dung ma túy gồm 01 chai nhựa ở giữa có gắn 01 ống tre nhỏ; 01 ống hút bằng nhựa, màu trắng dài 30cm; 02 chiếc bật lửa bằng nhựa, màu đỏ; 01 cuộn băng dính màu đen; 01 đoạn ống thủy tinh trong suốt dài 18cm; 01 cân tiểu ly kích thước (6x12)cm, đã hỏng; 03 mảnh giấy thiếc, kích thước (6x6)cm; 10 túi nilon trong suốt, kích thước (1,5x1,5)cm; 01 chiếc áo khoác nắng màu xanh đen; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu 555, màu vàng; 01 đoạn ống nhựa màu trắng dài 03 cm;
01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 chai nhựa và 01 tờ tiền giấy được cuộn tròn là vật liên quan đến hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng;
+ Truy thu từ bị cáo số tiền 490.000 đồng là khoản thu lợi bất chính của bị cáo có được từ việc bán ma túy;
+ Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu đen (sim số 0829803345 và 0912.477.680) là điện thoại bị cáo sử dụng liên lạc hàng ngày không liên quan đến hành vi phạm tội, nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của bị cáo;
+ Tịch thu hóa giá sung công nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart vos 4.0, sim số 0971881202 của bị cáo Nguyễn Tiến H và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VivoV5, màu hồng, sim số 0707748629 của người liên quan Phan Văn T là công cụ phương tiện phạm tội liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3; Điều 5; khoản 1 Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị buộc bị cáo Nguyễn Tiến H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, Bị cáo khai báo thành khẩn, không có ý kiến gì tranh luận chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm có điều kiện sửa chữa, hòa nhập cộng đồng để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa vắng mặt tất cả người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người chứng kiến nhưng xét thấy họ đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ và việc vắng mặt của họ không làm cản trở việc xét xử, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định xét xử vụ án.
[2]. Về tình tiết định tội, định khung hình phạt:
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Khoảng 16 giờ 20 phút, ngày 29/6/2022, tại thôn T, xã L, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh, Nguyễn Tiến H đã có hành vi bán trái phép 05 viên ma túy cho Phan Văn T, với số tiền 490.000 đồng. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, khi Phan Văn Tvà Trần Văn K vừa sử dụng hết số ma túy nói trên tại khu vực nghĩa trang thuộc thôn Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ phát hiện, lập biên bản sự việc. Đến 20 giờ cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp, khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Tiến H ở thôn T, xã L, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh phát hiện Nguyễn Tiến H đang tàng trữ 9,4646 gam Methamphetamime nhằm mục đích sử dụng và bán để kiếm lời.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại hồ sơ vụ án, phù hợp biên bản khám xét khẩn cấp, biên bản ghi lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với kết quả giám định chất ma túy và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Tiến H đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố bị cáo Nguyễn Tiến H về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có sức khỏe nhưng không chịu khó lao động mà lại đua đòi dẫn đến sử dụng ma túy và để có tiền mua ma túy sử dụng cũng tiêu xài cá nhân bị cáo mua ma túy về vừa để sử dụng vừa để bán nhằm mục đích kiếm lời. Bị cáo là người có nhân thân rất xấu. Ngày 30/12/2003, bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 36 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, theo quy định tại điểm a, d khoản 2 Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được xóa án tích). Ngày 22/8/2007, bị Tòa án nhân dân huyện Đ xử phạt 42 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 135 Bộ luật Hình sự năm 1999 (ngày 10/7/2015, được Tòa án nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận xóa án tích). Ngày 23/11/2017, bị Tòa án nhân dân huyện V xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự (đã được xóa án tích). Vì vậy, với hành vi phạm tội lần này Hội đồng xét xử xét thấy cần lên mức án nghiêm khắc đối với bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài như quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp, để cải tạo bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, căn cứ quyết định hình phạt.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: Người phạm tội thành khẩn khai báo, Gia đình có công với cách mạng (Bố bị cáo là ông Nguyễn Tiến T thương binh hạng 4/4) theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo trong quá trình lượng hình, để thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước với người phạm tội.
[4]. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2; điểm a, b, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 8,5536 gam ma túy được cho vào túi nilon trong suốt;
0,3089 gam ma túy được cho vào 01 túi ni lon trong suốt và toàn bộ các vỏ bao gói mẫu giám định là vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, không có giá trị. Tất cả các vật chứng này được đượng trong 01 phong bì thư màu trắng có dòng chữ “CÔNG AN TỈNH HÀ TĨNH, PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ”, được dán kín, trên mép có chữ ký của đối tượng và các thành viên trong Hội đồng.
+ Tịch thu tiêu hủy 01 đầu khò gắn với bình ga mini; 01 bộ dụng cụ sử dung ma túy gồm 01 chai nhựa ở giữa có gắn 01 ống tre nhỏ; 01 ống hút bằng nhựa, màu trắng dài 30cm; 02 chiếc bật lửa bằng nhựa, màu đỏ; 01 cuộn băng dính màu đen; 01 đoạn ống thủy tinh trong suốt dài 18cm; 01 cân tiểu ly kích thước (6x12)cm, đã hỏng; 03 mảnh giấy thiếc, kích thước (6x6)cm; 10 túi nilon trong suốt, kích thước (1,5x1,5)cm; 01 chiếc áo khoác nắng màu xanh đen; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu 555, màu vàng; 01 đoạn ống nhựa màu trắng dài 03 cm;
01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 chai nhựa và 01 tờ tiền giấy được cuộn tròn là vật liên quan đến hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng;
+ Truy thu từ bị cáo số tiền 490.000 đồng là khoản thu lợi bất chính của bị cáo có được từ việc bán ma túy;
+ Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu đen (sim số 0829803345 và 0912.477.680) là điện thoại bị cáo sử dụng liên lạc hàng ngày không liên quan đến hành vi phạm tội, nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của bị cáo;
+ Tịch thu hóa giá sung công nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart vos 4.0, sim số 0971881202 của bị cáo Nguyễn Tiến H và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VivoV5, màu hồng, sim số 0707748629 của người liên quan Phan Văn Tlà công cụ phương tiện phạm tội liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
[5]. Về xem xét trách nhiệm của những người liên quan:
Trong vụ án này, Phan Văn T và Trần Văn K đã có hành vi mua ma túy của Nguyễn Tiến H để sử dụng, nhưng khi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ phát hiện, bắt quả tang thì Phan Văn T và Trần Văn K đã sử dụng hết số ma túy nói trên, do đó không có căn cứ xử lý hình sự đối với T và K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, nên Cơ quan điều tra Công an huyện Đ đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với Phan Văn T và Trần Văn K về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định.
Đối với người đàn ông ở khu vực cầu C, thuộc phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An, mà bị cáo khai đã bán ma túy cho mình, do còn thiếu thông tin, nên chưa có căn cứ điều tra, xử lý.
Quá trình bán ma túy, bị cáo Nguyễn Tiến H thực hiện giao dịch mua bán ma túy cho Phan Văn T và không biết Trần Văn K đi cùng, nên không phải chịu trách nhiệm hình sự về tình tiết định khung hình phạt phạm tội “đối với 02 người trở lên”, quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
[6]. Về án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Nguyễn Tiến H 10 năm 06 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 29/6/2022.
2. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2; điểm a, b, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 8,5536 gam ma túy được cho vào túi nilon trong suốt;
0,3089 gam ma túy được cho vào 01 túi ni lon trong suốt và toàn bộ các vỏ bao gói mẫu giám định là vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, không có giá trị. Tất cả các vật chứng này được đượng trong 01 phong bì thư màu trắng có dòng chữ “CÔNG AN TỈNH HÀ TĨNH, PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ”, được dán kín, trên mép có chữ ký của đối tượng và các thành viên trong Hội đồng.
+ Tịch thu tiêu hủy 01 đầu khò gắn với bình ga mini; 01 bộ dụng cụ sử dung ma túy gồm 01 chai nhựa ở giữa có gắn 01 ống tre nhỏ; 01 ống hút bằng nhựa, màu trắng dài 30cm; 02 chiếc bật lửa bằng nhựa, màu đỏ; 01 cuộn băng dính màu đen; 01 đoạn ống thủy tinh trong suốt dài 18cm; 01 cân tiểu ly kích thước (6x12)cm, đã hỏng; 03 mảnh giấy thiếc, kích thước (6x6)cm; 10 túi nilon trong suốt, kích thước (1,5x1,5)cm; 01 chiếc áo khoác nắng màu xanh đen; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu 555, màu vàng; 01 đoạn ống nhựa màu trắng dài 03 cm;
01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 chai nhựa và 01 tờ tiền giấy được cuộn tròn là vật liên quan đến hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng;
+ Truy thu từ bị cáo số tiền 490.000 đồng là khoản thu lợi bất chính của bị cáo có được từ việc bán ma túy;
+ Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu đen (sim số 0829803345 và 0912.477.680) là điện thoại bị cáo sử dụng liên lạc hàng ngày không liên quan đến hành vi phạm tội, nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của bị cáo;
+ Tịch thu hóa giá sung công nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart vos 4.0, sim số 0971881202 của bị cáo Nguyễn Tiến H và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VivoV5, màu hồng, sim số 0707748629 của người liên quan Phan Văn T là công cụ phương tiện phạm tội liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3; Điều 5; khoản 1 Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Tiến H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (30/9/2022). Người liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án về tội mua bán trái phép chất ma túy số 42/2022/HSST
| Số hiệu: | 42/2022/HSST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Đức Thọ - Hà Tĩnh |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 30/09/2022 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về