Bản án về tội mua bán trái phép chất ma túy số 24/2021/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

BẢN ÁN 24/2021/HS-ST NGÀY 23/06/2021 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 23 tháng 6 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 22/2021/TLST-HS, ngày 19/5/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2021/QĐXXST-HS, ngày 08/6/2021 đối với bị cáo:

NGUYỄN VĂN M, tên gọi khác: Không; sinh ngày 02/3/1960, tại tỉnh Bắc Giang. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm T, xã PS, huyện TY, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Kh và bà Nguyễn Thị M, (đều đã chết); có vợ là Ngô Thị H và 03 con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/01/2021 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên, (có mặt tại phiên tòa).

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn M do Đoàn Luật sư tỉnhThái Nguyên cử: Luật sư Nguyễn Đức H1, Văn phòng Luật sư TH, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Thái Nguyên, (có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1985, trú tại: Xóm T, xã PS, huyện TY, tỉnh Bắc Giang, (có mặt).

* Người chứng kiến: Ông Nguyễn Đức Ch, sinh năm 1967, trú tại: Tổ 8, phường HVT, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 00 phút ngày 26/01/2021, tại đường tỉnh lộ 261E, thuộc xóm TV, xã TĐ, huyện PB, tỉnh Thái Nguyên, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Thái Nguyên phát hiện Nguyễn Văn M, sinh năm 1960, trú tại xóm T, xã PS, huyện TY, tỉnh Bắc Giang đang đứng cạnh chiếc xe ô tô nhãn hiệu SANTAFE, biển kiểm soát 98A-177.11 có biểu hiện liên quan đến ma túy nên đã kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện thu giữ trong túi quần bên phải M đang mặc 04 túi nilon, bên trong mỗi túi đều chứa các viên nén màu hồng và 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa các cục tinh thể màu trắng, niêm phong phong bì ký hiệu (Q). Ngoài ra, còn thu giữ của M 01 điện thoại di động nhãn hiệu MASSTEL, vỏ màu đen bên trong có 02 số thuê bao là: 0332.828.168, 0869.340.960, niêm phong phong bì ký hiệu (Đ) và một số đồ vật, tài sản khác.

Cùng ngày, khám xét chỗ ở của Nguyên Văn M tại xóm T, xã PS, huyện TY, tỉnh Bắc Giang, kết quả: Thu giữ trong buồng ngủ của M 01 khẩu súng có báng bằng gỗ, súng có 01 nòng bằng kim loại màu đen, tổng chiều dài của súng là 100cm, niêm phong toàn bộ phần cò và quy lát súng ký hiệu (S). Thu giữ trong tủ quần áo đặt trong phòng khách nhà M 10 viên đạn bằng kim loại màu vàng có cùng chiều dài 2,5cm, đường kính 0,9cm; 06 viên đạn bằng kim loại màu vàng có cùng chiều dài 3,5cm, đường kính 0,9cm, niêm phong phong bì ký hiệu (Đ).

Mở niêm phong cân xác định khối lượng, lấy mẫu gửi giám định đối với số vật chứng thu giữ của M, kết quả: Trong bì niêm phong (Q) có tổng số 799 viên nén màu hồng, khối lượng 77,33 gam, lấy 10 viên khối lượng, 0,91 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu bì (G1), số còn lại 789 viên, khối lượng 76,42 gam niêm phong lưu kho ký hiệu bì (L1); số chất tinh thể màu trắng có khối lượng là 49,91 gam, lấy 3,81 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu bì (G2), còn lại 46,1 gam niêm phong lưu kho ký hiệu (L2).

Mở niêm phong kiểm tra chiếc điện thoại thu giữ của M không phát hiện dữ liệu gì liên quan.

Tại Kết luận giám định số 390/KL-KTHS, ngày 03/02/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Mẫu các viên nén màu hồng trong phong bì ký hiệu (G1) gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng gửi giám định là 0,91 gam, tổng khối lượng thu giữ ban đầu là 77,33 gam.

Mẫu chất tinh thể màu trắng trong phong bì ký hiệu (G2) đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng gửi giám định là 3,81 gam, tổng khối lượng thu giữ ban đầu là 49,91 gam.

Quá trình điều tra xác định được hành vi phạm tội của bị cáo như sau: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 26/01/2021, M một mình điều khiển ô tô nhãn hiệu HYUNDAI SANTAFE, biển kiểm soát 98A-177.11 đến khu vực bờ sông thuộc xóm G, xã SV, huyện TY, tỉnh Bắc Giang, tại đây M gặp và mua của một người nam giới không quen biết 04 túi ma túy hồng phiến với giá 28.000.000 đồng và 01 túi ma túy đá với giá 13.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, M cất toàn bộ số ma túy trên vào trong túi quần bên phải đang mặc rồi điều khiển xe ô tô đi đến khu vực xóm TV, xã TĐ, huyện PB, tỉnh Thái Nguyên để bán với giá từ 42 triệu đồng đến 44 triệu đồng. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, khi M đang dừng đỗ xe ở bờ đê Sông Đ đường tỉnh lộ 261E, thì bị lực lượng Công an đến yêu cầu kiểm tra, phát hiện và thu giữvật chứng.

Đối với số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) thu giữ trên người M khi bắt quả tang là tiền của M, do M lao động mà có.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, sơ đồ hiện trường, biên bản khám xét, biên bản niêm phong đồ vật bị tạm giữ, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến.

Bản cáo trạng số27/CT-VKS, ngày 19/5/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Phần luận tội tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 20 năm tù. Phạt tiền bị cáo từ 10 triệu đến 15 triệu đồng sung quỹ nhà nước.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Trong phần tranh luận, bị cáo không tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát. Luật sư bào chữa cho bị cáo xác định Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh đặc biệt của bị cáo, gia đình bị cáo có công với cách mạng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụngđiểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo nhất trí với nội dung bào chữa của Luật sư.

Bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên và người bào chữa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, Luật sư và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.

[2] Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, kết luận giám định, lời khai của người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ ngày 26/01/2021, bị cáo đến xóm G, xã SV, huyện TY, tỉnh Bắc Giang mua của một người nam giới không quen biết 127,24 gam Methamphetamine, với giá 41.000.000đồng với mục đích bán lại để kiếm lời. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, bị cáo mang số ma túy trên đến xóm TV, xã TĐ, huyện PB, tỉnh Thái Nguyên để bán, nhưng chưa kịp bán thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang.

Với hành vi nêu trên, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Điều luật có nội dung:

1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

…4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình.

…b) Methamphetamine… có khối lượng 100 gam trở lên.

[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây hủy hoại sức khỏe của con người, làm nguy cơ gia tăng các loại tội phạm khác. Tính chất đặc biệt nghiêm trọng trong vụ án này, thể hiện ở trọng lượng ma túy do bị cáo mua bán trái phép nhằm kiếm lời, xét thấy cần phải xử lý nghiêm, buộc bị cáo phải cách ly xã hội để cải tạo, giáo dục bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn, hối cải, do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đó là:“Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Ngoài ra, bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Văn Kh được nhà nước tặng thưởng Huy chươngkháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhì, do vậy bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Đề nghị của đại diện của Viện kiểm sát là có căn cứ chấp nhận.

Đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo, Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.

[5] Vật chứng vụ án:

- Tịch thu tiêu hủy đối với số ma túy được niêm phong trong các bì được ký hiệu từ G1 đến G2 và ký hiệu từ L1 đến L2.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, vỏ màu đen đã qua sử dụng, bên trong có 02 số thuê bao lần lượt là: 0332.828.168; 0869.340.960 thu giữ của bị cáo. Quá trình điều tra xác định bị cáo đã dùng chiếc điện thoại trên để liên lạc vào việc mua bán trái phép chất ma túy, xét thấy cần tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước.

- Đối với 01 Giấy chứng M thư nhân dân số120995310 và 01 Giấy phép lái xe số 240179007678 đều mang tên Nguyễn Văn M do thu giữ của bị cáo, xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy cần trả lại cho bị cáo.

- Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu SANTAFE, biển kiểm soát 98A-177.11, đăng ký mang tên Dương Thị H, sinh năm 1979, trú tại: Lô A37, CT, phường HVT, thành phố BG, tỉnh Bắc Giang. Quá trình điều tra xác định chị H đã bán chiếc xe ô tô trên cho anh Nguyễn Văn T (con đẻ bị cáo), sinh năm 1985, trú tại xóm T, xã PS, huyện TY, tỉnh Bắc Giang. Ngày 26/01/2021, bị cáo đã tự ý lái xe ô tô đi mua bán ma túy, anh Tùng không biết bị cáo sử dụng chiếc xe ô tô trên vào mục đích vi phạm phát luật. Ngày 18/3/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Nguyên đã trả lại chiếc xe trên cho chủ sở hữu, xét thấy là đúng quy định của pháp luật.

- Đối với 01 khẩu súng và 16 viên đạn phát hiện thu giữ tại nhà bị cáo, tại Kết luận giám đinh số 1022/KL-GĐ, ngày 08/3/2021 của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an, kết luận: Khẩu súng là súng tự chế, không đu cơ sở để xác đinh khẩu súng thuộc vũ khí quân dụng; 10 viên đan có cùng kích thước chiều dài 3,5cm và 06 viên đan có cùng kích thước chiều dài 2,5cm thuộc đan quân dụng. Ngày 07/4/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Nguyên đa tách vụ án chuyển đến Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Bắc Giang để điều tra theo thẩm quyền là có căn cứ và đung quy đinh.

- Đối với số tiền 1.000.000đồng thu giữ trong người bị cáo, xác định không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo, nhưng tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội vì mục đích lợi nhuận, vì vậy cần phạt bổ sung một khoản tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự để sung quỹ nhà nước.

Trong vụ án này, theo bị cáo khai đã mua ma túy của một người nam giới tên Cương không rõ họ và đia chi, nên Cơ quan điều tra không có cơ sở xác M làm rõ là có căn cứ.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự;

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

2. Về hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1,khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 20 (hai mươi) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam 26/01/2021.

3. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo 10.000.000đồng(mười triệu đồng) sung quỹ nhà nước.

4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy gồm:

1. 01 bì niêm phong ký hiệu (G1) trên mép dán có chữ ký ghi họ tên của Trần Đức Thủy, Nguyễn Đăng Hiệp và đóng hình dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, bên ngoài ghi có 0,8 gam mẫu hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu.

2. 01 bì niêm phong ký hiệu (G2) trên mép dán có chữ ký ghi họ tên của Trần Đức Thủy, Nguyễn Đăng Hiệp và đóng hình dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, bên ngoài ghi có 3,72 gam mẫu hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu.

3. 01 bì niêm phong ký hiệu (L1) trên mép dán có chữ ký ghi họ tên của Nguyễn Văn M và các thành phần tham gia, đóng 03 hình dấu tròn của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Nguyên, bên ngoài ghi chứa 789 viên ma túy tổng hợp hồng phiến (Methamphetamine) có tổng khối lượng là 76,42 gam.

4. 01 bì niêm phong ký hiệu (L2) trên mép dán có chữ ký ghi họ tên của Nguyễn Văn M và các thành phần tham gia, đóng 03 hình dấu tròn của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Nguyên, bên ngoài ghi có 46,1 gam Methamphetamine.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, vỏ màu đen đã qua sử dụng, có 02 số Imei: 358069241216509 và 358069241366502.

- Trả lại cho bị cáo 01 Giấy chứng M thư nhân dân số 120995310 và 01 Giấy phép lái xe số 240179007678 đều mang tên Nguyễn Văn M.

- Tạm giữ số tiền 1.000.000đồng(một triệu đồng) của bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Nguyên và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên ngày 14/5/2021; số tiền trên theo Giấy ủy nhiệm chi số 165 ngày 14/5/2021.

5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000đồng(hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

“Trưng hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.”

6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, Điều 333 và Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./


12
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội mua bán trái phép chất ma túy số 24/2021/HS-ST

Số hiệu:24/2021/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thái Nguyên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:23/06/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về