TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 140/2023/HS-PT NGÀY 26/05/2023 VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
Ngày 26 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở, Tòa án nhân dân Thành phố H xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 133/2023/TLPT-HS ngày 19 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Phúc H. Do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 84/2023/HS-ST ngày 09/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đ, Thành phố H.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Phúc H; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 19 tháng 9 năm 1996 tại B; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thị trấn T, huyện H, tỉnh B; Nơi cư trú: Thị trấn T, huyện H, tỉnh B; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Con ông Nguyễn Hồng P, sinh năm 1965 và bà Phạm Thị Kim M, sinh năm 1970; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ 12/12/2022 đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Phúc H ở chung nhà với anh Trần Lý Huỳnh Đ và anh Trần Thanh N tại căn hộ B, Chung cư H, số C đường T, khu phố C, phường P, thành phố T, Thành phố H. Do không có tiền tiêu xài cá nhân và trả tiền thuê nhà, nên H nảy sinh ý định giả vờ mượn xe của anh Đ và anh N rồi mang đi cầm lấy tiền, cụ thể như sau:
Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 24/9/2022, Nguyễn Phúc H mượn xe mô tô hiệu Honda Airblade biển số 72G1 – xxxxx của anh Đ (giấy đăng ký xe để sẵn trong cốp xe). Sau khi anh Đ giao xe thì bị cáo điều khiển chiếc xe trên đến tiệm cầm đồ “Duy Linh”, tại số A, đường T, phường P, thành phố T do anh Lê Đức T làm chủ để cầm cố. Tại đây, H gặp anh Nguyễn Ngọc Đ1 là nhân viên của tiệm cầm đồ “Duy L”, H xuất trình giấy đăng ký xe mô tô mang tên Trần Thị Lan A và căn cước tên Nguyễn Phúc H. Thấy xe đứng tên người khác nên anh Đ1 hỏi thì H nói xe mua tại cửa hàng, đang chờ sang tên nên anh Đ1 tin là thật và nhận cầm với số tiền 8.000.000 (Tám triệu) đồng. Số tiền cầm cố chiếc xe trên H đã tiêu xài cá nhân hết.
Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 27/9/2022, H hỏi mượn xe mô tô hiệu Honda Future biển số 60B9 – xxxxx của anh N và lợi dụng lúc anh N đi tắm, H lục ba lô của anh N lấy giấy đăng ký xe, rồi cũng mang đến tiệm cầm đồ “Duy L” để cầm cố. Lúc này H gặp nhân viên của cửa hàng là anh Phan Biện S, H nói với anh S là xe của H mới mua, chưa làm thủ tục sang tên. Do thấy có giấy đăng ký xe và thẻ căn cước công dân nên anh S tin tưởng chiếc xe này là của bị cáo và đồng ý nhận cầm cố với số tiền là 13.000.000 (Mười ba triệu) đồng. Số tiền cầm cố chiếc xe trên H đã tiêu xài cá nhân hết.
Vật chứng vụ án:
- 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade biển số 72G1 – xxxxx, và 01 giấy đăng ký xe mang tên Trần Thị Lan A.
- 01 xe mô tô hiệu Honda Future biển số 60B9 - xxxxx, và 01 giấy đăng ký xe mang tên Trần Thanh N.
- 02 hợp đồng cầm đồ số A797 đề ngày 24/9/2022, và A867 đề ngày 28/9/2022 - 01 USB lưu giữ hình ảnh Nguyễn Phúc H điều khiển xe mô tô của anh Trần Lý Huỳnh Đ và anh Trần Thanh N rời khỏi hầm bãi giữ xe Chung cư H.
Bản kết luận định giá tài sản số 132-KV2-KLĐG-HĐĐGTS ngày 12/10/2022, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda – Airblade, biển số 72G1 – xxxxx trị giá 11.300.000 đồng; chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Hoada – Future, biển số 60B9 – xxxxx trị giá 21.300.000 đồng.
Về trách nhiệm phần dân sự:
- Anh Trần Lý Huỳnh Đ và anh Trần Thanh N đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T trả lại nên không có yêu cầu nào khác.
- Các anh Nguyễn Ngọc Đ1, Phan Biên S1 và anh Lê Đức T không yêu cầu bị cáo Nguyễn Phúc H trả lại số tiền đã cầm cố 2 chiếc xe.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 84/2023/HS-ST ngày 09/3/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Đ, Thành phố H đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phúc H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt: Nguyễn Phúc H 02 (Hai) năm 06 (S2) tháng tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/12/2022.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, tiền án phí và quyền kháng cáo của bị cáo và các đương sự.
Ngày 10/3/2023, bị cáo Nguyễn Phúc H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Nguyễn Phúc H thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử. Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:
- Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm bị cáo thừa nhận do có ý định chiếm đoạt tài sản của anh Trần Lý Huỳnh Đ và anh Trần Thanh N, nên bị cáo chủ động hỏi mượn xe của anh Đ và anh N. Sau khi nhận được xe thì bị cáo mang đi cầm cố để lấy tiền tiêu xài. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Về giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt: Theo kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T chiếc xe của anh Trần Lý Huỳnh Đ và chiếc xe mô tô của anh Trần Thanh N có trị giá 32.600.000 đồng. Với giá trị tài sản trên, cấp sơ thẩm đã truy tố và xét xử bị cáo Nguyễn Phúc H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng tội, đúng pháp luật và không oan sai.
- Bị cáo chiếm đoạt tài sản của hai người vào hai thời điểm khác nhau; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng tại điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 cho bị cáo là có căn cứ.
- Mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt đối với bị cáo là không nặng, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp tình tiết giảm nhẹ nào mới, do đó không có căn cứ để xem xét giảm án cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát và trong lời nói sau cùng bị cáo xin tòa giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định, phù hợp với quy định tại Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Phúc H khai nhận do không có tiền tiêu xài và trả tiền thuê nhà nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của anh Trần Lý Huỳnh Đ và anh Trần Thanh N thông qua hành vi mượn xe và sau khi được anh Đ và anh N giao xe thì bị cáo mang đi cầm cố để lấy tiền sử dụng mục đích cá nhân. Anh N và anh Đ yêu cầu bị cáo chuộc lại xe nhưng bị cáo chỉ hứa hẹn nhưng không chuộc lại xe để trả lại. Theo kết luận định giá tài sản số 132- KV2-KLĐG-HĐĐGTS, ngày 12/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T, Thành phố H thì chiếc xe của anh Trần Lý Huỳnh Đ có giá trị giá 11.300.000 (Mười một triệu ba trăm nghìn) đồng và chiếc xe mô tô của anh Trần Thanh N có trị giá 21.300.000 (Hai mươi mốt triệu ba trăm nghìn) đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử và kết tội bị cáo Nguyễn Phúc H, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt: Bị cáo chiếm đoạt tài sản của các bị hại vào hai thời điểm khác nhau; quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Do đó, cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 cho bị cáo là có căn cứ, đúng luật.
[4] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Phúc H, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Mức án 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù mà cấp sơ thẩm đã áp dụng là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và đã xem xét, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng. Tại phiên tòa phúc thẩm không phát sinh tình tiết giảm nhẹ mới nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm theo qui định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án có hiệu lực ngày 01/01/2017.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Phúc H. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 84/2023/HS-ST ngày 09/3/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Đ, Thành phố H.
Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Nguyễn Phúc H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam (Ngày 12/12/2022).
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Phúc H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng, tiền án phí hình sự phúc thẩm, để sung vào ngân sách nhà nước.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản số 140/2023/HS-PT
| Số hiệu: | 140/2023/HS-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 26/05/2023 |
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về