Bản án về tội giết người số 66/2023/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 66/2023/HS-ST NGÀY 07/12/2023 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI

Ngày 07 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2023. Theo Quyết định đưa vụ án xét xử số: 68/2023/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Phan Văn Đ, sinh năm 1960, tại tỉnh Long An;

- Nơi cư trú: Ấp P X, xã P M, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang;

- Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 01/12;

- Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Cao Đài; Quốc tịch: Việt Nam;

- Con ông Phan Văn Đ (đã chết) và bà Lê Thị D (đã chết);

- Bị cáo có vợ: Lê Thị H và 04 người con;

- Đặc điểm nhân thân của bị cáo: Từ năm 12 tuổi đến năm 46 tuổi sinh sống cùng gia đình tại xã M A, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An. Từ năm 47 tuổi sinh sống cùng gia đình tại ấp P X, xã P M, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang, làm ruộng đến ngày phạm tội;

- Tiền án, tiền sự: Không;

- Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/6/2023, chuyển tạm giam từ ngày 25/6/2023 đến nay tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Tiền Giang;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Trần Vĩnh P – Văn phòng luật sư Lê Quang H, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Long An.

Nơi cư trú: Xã Bình Thạnh, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

- Bị hại: Phan Công T (chết);

Đại diện hợp pháp của bị hại: Đoàn Thị Tuyết N, sinh năm 1997;

Nơi cư trú: Ấp R C, xã L B N, thành phố Tân An, tỉnh Long An. (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lê Thị H, sinh năm 1959;

Nơi cư trú: Ấp P X, xã P M, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Anh Phan Công T sinh ngày 24/4/1991 là con ruột của Phan Văn Đ và bà Lê Thị H, sinh năm 1959, cùng sống chung nhà tại ấp P X, xã P M, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.

Khoảng 19 giờ ngày 18/6/2023, trong lúc Đ đang ở nhà cùng bà Lê Thị H và vợ anh T là chị Đoàn Thị Tuyết N, sinh năm 1997, thì T đi uống rượu bia về nhà ngồi ăn cơm tại bàn ăn nhà sau. Do thấy T ăn phần thức ăn để riêng cho cháu Phan Như T, sinh năm 2017 (con ruột T) nên bà H nhắc nhở T thì T phản ứng ném đồ đạc trên bàn xuống nền gạch, hất ngã bàn ăn cơm, lớn tiếng cự cãi bà H. Biết T cố ý gây sự nên Đ và bà H đi vào phòng ngủ.

Khoảng 30 phút sau, T đến đập cửa phòng của vợ chồng Đ, lớn tiếng chửi, đòi chia tài sản nên Đ cùng bà H đi ra ngoài bàn ghế đá ở hành lang phía trước nhà ngồi nói chuyện. T tiếp tục đi đến lớn tiếng đòi được chia tài sản nên giữa T với Đ và bà H cự cãi nhau. T liền lấy ly uống nước, bình trà đang để trên bàn đá ném vào người bà H nhưng không trúng nên bà H bỏ đi. Tiếp đó, T dùng tay không đánh vào đầu Đ khoảng 04 đến 05 cái nhưng không gây thương tích. Đ tức giận nên chạy xuống ván gỗ nhà sau lấy một con dao dài 24cm, cán nhựa màu đen dài 11,5cm, lưỡi dài 12,5cm, rộng 2,5cm, mũi nhọn, sắc bén cầm chạy đến chỗ T, nói “Mày đánh tao, tao đâm mày” thì T nói “Mày dám đâm tao không” rồi xông vào đánh Đ, thì bị Đ dùng tay trái (tay thuận) cầm dao theo hướng phần lưỡi dao tiếp giáp ngón út, cán dao hướng vào phía trong lòng bàn tay đâm T hai nhát theo hướng từ trước ra sau, từ ngoài vào trong, từ trái sang phải trúng vào phần đầu trong xương đòn trái, và 1/3 trên ngoài cánh tay trái. Chị N nghe có đánh nhau nên từ nhà sau chạy lên, lúc này T bị thương chảy nhiều máu đi đến ngã vào người chị N rồi gục xuống. T được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Long An cấp cứu, đến khoảng hơn 21 giờ cùng ngày thì chết.

Sau khi đâm anh T, Đ cầm dao chạy ra trước nhà điện thoại cho Công an xã P M, huyện Tân Phước, Tiền Giang tự thú hành vi của mình.

* Biên bản khám nghiệm hiện trường lúc 03 giờ ngày 19/6/2023 ghi nhận hiện trường vụ Giết người xảy ra tại ấp P X, xã P M, huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang (nhà Phan Văn Đ).

Phía trước cửa là hành lang rộng 2,5 m, nền gạch men. Tại vị trí trên hành lang cách cửa ra vào thứ ba (tính từ Đông sang Tây) 2,5 m và cách mép hành lang phía Tây 03m là vị trí Đ dùng dao đâm Trường (ký hiệu 01) Từ vị trí 01 về hướng Đông 3,5 m trên hành lang trước nhà, cách cửa ra vào thứ nhất (tính từ Đông sang Tây) 1,1 m phát hiện vùng vết màu đỏ nghi máu có diện rộng (3,2 x 1,4) m, dạng vũng màu đỏ sậm. Trong vùng vết màu đỏ nghi máu này thấy có nhiều dấu giầy dép dính máu không rõ hình dạng.

Cách vị trí số 1 về hướng Bắc 1,1 m trên nền xi măng sân trước là bộ bàn ghế đá. Cách bàn ghế đá này về hướng Bắc 0,9 m phát hiện vùng vết màu đỏ nghi máu thứ hai, kéo dài về hướng Đông có diện rộng (5 x0,2) m, không liên tục, dạng nhỏ giọt, màu đỏ sậm. Cuối vết này là vùng vết màu đỏ nghi máu thứ nhất.

Cách vị trí 1 về hướng Đông 1,1 m trên nền xi măng có 01 chân ghế gỗ, có 04 chân bị ngã và cách chân ghế này về hướng Bắc 0,5 m là mặt bàn đá hình tròn có đường kính 1,1 m, bị lật úp và bể. Trong vùng chân ghế gỗ và mặt bàn trên nền xi măng có nhiều mảnh vỡ thủy tinh của ly thủy tinh, bình nhựa.

* Kết luận giám định tử thi số 203-2023/KLGĐTT-TTPY ngày 19/6/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Tiền Giang đối với bị hại Phan Công T như sau: Dấu hiệu chính qua giám định:

Vết thương đầu trong xương đòn trái; Vết thương 1/3 trên ngoài cánh tay trái; Tụ máu dưới da đầu trong xương đòn trái; Gãy khớp ức đòn bên trái; Tụ máu mặt sau đầu trên xương ức bên phải; Tụ máu trung thất trước hai bên; Thủng bao màng tim bên trái; Bao màng tim khoảng 1000ml máu đỏ sẫm lẫn máu cục; Thủng cung động mạch chủ; Đứt động mạch dưới đòn trái; Buồng tim bên phải có nhiều máu loãng; Phổi phải sung huyết cả ba thùy, khoang màng phổi phải sạch; Phổi trái sung huyết cả hai thùy; khoang màng phổi trái sạch; Nhu mô phổi phải và trái có máu đỏ sậm lẫn bọt khí; Ổ bụng sạch; Gan, lách, thận, ruột non, ruột già, bàng quang không ghi nhận tổn thương; Da và tổ chức dưới da đầu không tụ máu; Cơ thái dương hai bên không tụ máu; Xương hộp sọ, xương thái dương hai bên không nứt; Nồng độ Alcool trong máu 11.7mmol/L.

- Kết luận: Nguyên nhân tử vong của Phan Công T do mất máu cấp do vết thương xuyên thấu ngực gây thủng cung động mạch chủ, đứt động mạch dưới đòn trái.

- Kết luận giám định số 4204/KL-KTHS ngày 25 tháng 7 năm 2023 của Phân Viện khoa học hình sự tại TP. Hồ Chí Minh, xác định ADN trên các mẫu vật thu giữ:

- Trên con dao do Phan Văn Đ giao nộp (Ký hiệu M1) có dính máu người, của một nam giới. Kiểu gen của nam giới này trùng với kiểu gen của Phan Công T.

- Dấu nghi máu thu tại hiện trường tại vị trí số 2 (ký hiệu M2); Dấu nghi máu thu tại hiện trường tại vị trí 4 (Ký hiệu M3) là máu người, của cùng một nam giới. Kiểu gen của nam giới này trùng với kiểu gen của Phan Công T.

* Biên bản làm việc lúc 10 giờ 10 phút ngày 20/6/2023 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tiền Giang, Phan Văn Đ xác định con dao dài 24cm, cán nhựa màu đen dài 11,5cm, lưỡi dài 12,5cm, rộng 2,5cm, mũi nhọn, sắc bén là con dao Phan Văn Đ dùng đâm Phan Công T.

* Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

+ Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, Phan Văn Đ có thái độ ăn năn hối cải, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, sau khi gây án bị cáo chủ động gọi điện thoại cho Cơ quan Công an để tự thú, bị cáo đã khắc phục hậu, đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

+ Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

* Vật chứng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tiền Giang hiện đang tạm giữ:

+ 01 (một) con dao dài 24cm, cán nhựa màu đen dài 11,5cm, lưỡi dài 12,5cm, rộng 2,5cm, mũi nhọn, sắc bén (do bị can giao nộp).

+ Các mảnh vỡ thủy tinh, mãnh vỡ nhựa của bình nước, bình thủy bể (thu tại hiện trường) + 02 (hai) mẫu màu đỏ nghi máu thu tại hiện trường tại vị trí số 2 và số 4 (thu tại hiện trường).

* Trách nhiệm dân sự: Đại diện của bị cáo Phan Văn Đ là bà Lê Thị H đã bồi thường cho đại diện của bị hại Phan Công T là Đoàn Thị Tuyết N chi phí mai táng, xây mồ và trực tiếp thờ cúng tổng cộng 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng) chị N không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại bản cáo trạng số 47/CT-VKSTG-P2 ngày 12 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang đã truy tố bị cáo Phan Văn Đ về tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, là người gây ra cái chết của anh Trường, bị cáo ăn năn hối lỗi đối với hành vi, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt. Bị hại có yêu cầu cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt đến mức thấp nhất.

Luật sư tham gia bào chữa cho bị cáo có ý kiến trình bày: Thống nhất với cáo trạng về tội danh đã truy tố, nêu các tình tiết dẫn đến hành vi phạm tội là do bị hại có lỗi, hoàn cảnh gia đình của bị cáo là nông dân đã lớn tuổi. Luật sư có nhiều phân tích về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là có thêm tình tiết tại điểm e khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị giảm nhẹ hình phạt, chỉ xử phạt bị cáo từ 02 đến 03 năm tù.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang trong phần tranh luận phát biểu giữ nguyên bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, quan điểm giải quyết vụ án đã phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, do bị hại có lỗi. Đề nghị tuyên bố bị cáo Đ phạm tội giết người, căn cứ khoản 2 Điều 123, điểm b, r, s khoản 1 Điều 51, Điều 54 Bộ luật tố tụng hình sự, xử phạt bị cáo dưới khung hình phạt quy định, từ 04 đến 05 năm tù. Xử lý vật chứng theo quy định, trách nhiệm dân sự đã giải quyết xong.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]- Tại phiên tòa, bị cáo Phan Văn Đ đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã truy tố, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai trước đây của bị cáo tại cơ quan điều tra, cùng chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người khác, qua lời thừa nhận hành vi của bị cáo Phan Văn Đ, vào khoảng 19 giờ ngày 18/6/2023 bị cáo Đ đã gây ra cái chết của con bị cáo là Phan Công T, nguyên nhân là do trước đó bị hại T có hành vi gây gỗ, ném vật cứng vào bà H là vợ của bị cáo Đ, dùng tay đánh bị cáo Đ nên gây ức chế, dẫn đến bị cáo Đ thực hiện hành vi phạm tội là gây ra cái chết của bị hại. Hành vi của bị cáo bị truy tố về tội Giết người theo khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự là phù hợp.

[2]- Bị cáo nhận thức được rằng, sức khỏe và thân thể con người được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe trái pháp luật của người sẽ bị trừng trị. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp gây ra cái chết của bị hại, không những gây ra sự mất mát đau thương cho người thân, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự và an toàn xã hội. Do đó cần xử phạt bị cáo hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội Xem xét về điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo, về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo cho thấy bị cáo là nông dân, bản thân không có tiền án tiền sự, bị hại là con của bị cáo và có lỗi cố ý gây sự, có hành vi trái đạo đức với cha mẹ, sau khi phạm tội thì bị cáo tự thú hành vi của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là người gây ra cái chết của bị hại cũng là con ruột của bị cáo, có ảnh hưởng đến sự đau xót của bị cáo. Về trách nhiệm dân sự đã bồi thường xong, đại diện cho bị hại có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, r, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Chỉ cần xử phạt bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là đủ giáo dục, cải tạo, răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

[3]- Về vật chứng: Không giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao dài 24cm, cán nhựa màu đen dài 11,5cm, lưỡi dài 12,5cm, rộng 2,5cm, mũi nhọn, sắc bén (do bị can giao nộp); các mảnh vỡ thủy tinh, mãnh vỡ nhựa của bình nước, bình thủy bể (thu tại hiện trường); 02 (hai) mẫu màu đỏ nghi máu thu tại hiện trường tại vị trí số 2 và số 4 (thu tại hiện trường).

Về trách nhiệm dân sự đã thỏa thuận, giải quyết xong.

[4]- Quá trình thực hiện khởi tố vụ án, điều tra, truy tố, ban hành các quyết định tố tụng trong vụ án của điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng theo pháp luật tố tụng hình sự. Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xem xét chấp nhận một phần lời đề nghị của người bào chữa.

[5]- Bị cáo Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

 1. Tuyên bố bị cáo Phan Văn Đực phạm tội “Giết người”.

2. Áp dụng: Khoản 2 Điều 123; điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38, 54 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Phan Văn Đ 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/6/2023.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) con dao dài 24cm, cán nhựa màu đen dài 11,5cm, lưỡi dài 12,5cm, rộng 2,5cm, mũi nhọn, sắc bén (do bị can giao nộp); các mảnh vỡ thủy tinh, mãnh vỡ nhựa của bình nước, bình thủy bể (thu tại hiện trường); 02 (hai) mẫu màu đỏ nghi máu thu tại hiện trường tại vị trí số 2 và số 4 (thu tại hiện trường).

4. Đã thỏa thuận, giải quyết xong về trách nhiệm dân sự.

5. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án năm 2009; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Bị cáo Đ, đại diện bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

51
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội giết người số 66/2023/HS-ST

Số hiệu:66/2023/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Tiền Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 07/12/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về