Bản án về tội đánh bạc số 419/2023/HS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 419/2023/HS-PT NGÀY 13/06/2023 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 13 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 120/2023/TLPT-HS ngày 13 tháng 02 năm 2023 đối với các bị cáo Nguyễn Thành T và đồng phạm, phạm tội Đánh bạc; do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2022/HS-ST ngày 18/11/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên.

- Bị cáo có kháng cáo:

1. Nguyễn Thành T (tên gọi khác: không), sinh ngày 08 tháng 4 năm 1990, tại tỉnh Yên Bái; Nơi ĐKHKTT: đường HH, tổ 18 phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Chỗ ở hiện nay: số nhà 198, đường Soi Tiền, tổ 24 phường KT, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Xuân T2, sinh năm 1964 và bà Bùi Thị N2, sinh năm 1969; có vợ là Phùng Hà Phương, sinh năm 1998 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án: không; Tiền sự: không; Nhân thân: chưa bị kết án và năm 2016 bị Công an phường CN, quận TL, thành phố Hà Nội xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/01/2022 đến ngày 29/4/2022 được tại ngoại và áp dụng biện pháp Bảo lĩnh, vắng mặt tại phiên tòa.

2. Lê Đình H (tên gọi khác: không), sinh ngày 01 tháng 9 năm 1988, tại tỉnh Yên Bái; Nơi ĐKHKTT: thị trấn CP, huyện TY, tỉnh Yên Bái; Chỗ ở hiện nay: thị trấn CP, huyện TY, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Đình T3, sinh năm 1957 và bà Bùi Thị T4, sinh năm 1962; có vợ là Đặng Thị N1, sinh năm 1988 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án: không; Tiền sự: không; Nhân thân: chưa bị kết án và chưa bị xử lý vi phạm hành chính; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/01/2022 đến ngày 04/4/2022 được tại ngoại và áp dụng biện pháp Bảo lĩnh, có mặt tại phiên tòa.

3. Bùi Đình K (tên gọi khác: không), sinh ngày 20 tháng 3 năm 1988, tại tỉnh Hà Tĩnh; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: chung cư C1, phường KT, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Thanh P1, sinh năm 1953 và bà Trần Thị P2, sinh năm 1964; có vợ là Ngô Thị Q, sinh năm 1991 và có 01 con sinh năm 2021; Tiền án: không; Tiền sự: không; Nhân thân: chưa bị kết án và chưa bị xử lý vi phạm hành chính; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/01/2022 đến ngày 01/4/2022 được tại ngoại và áp dụng biện pháp Bảo lĩnh, có mặt tại phiên tòa.

4. Trần Phương P (tên gọi khác: không), sinh ngày 06 tháng 11 năm 1991, tại tỉnh Bắc Giang; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: đường L1, phường L2, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Phương B1, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị B2, sinh năm 1970; có vợ là Vũ Thị P3, sinh năm 1984 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2018, con nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án: không; Tiền sự: không; Nhân thân: chưa bị kết án và chưa bị xử lý vi phạm hành chính; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/02/2022 đến ngày 04/4/2022 được tại ngoại và áp dụng biện pháp Bảo lĩnh, vắng mặt tại phiên tòa.

5. Phùng Đức A (tên gọi khác: không), sinh ngày 17 tháng 12 năm 1983, tại tỉnh Yên Bái; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: số 11, tổ dân phố NT, phường NC, thành phố YB, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Viên chức Trung tâm y tế huyện TY, tỉnh Yên Bái; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phùng Đức E, sinh năm 1953 và bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1957; có vợ là Chu Thị Hồng M1, sinh năm 1987 và có 01 con sinh năm 2019; Tiền án: không; Tiền sự: không; Nhân thân: chưa bị kết án và chưa bị xử lý vi phạm hành chính; Bị cáo là đảng viên, đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng từ ngày 05/01/2022 cho đến nay; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/01/2022 đến ngày 01/4/2022 được tại ngoại và áp dụng biện pháp Bảo lĩnh, có mặt tại phiên tòa.

6. Trần Văn M (tên gọi khác: không), sinh ngày 26 tháng 8 năm 1990, tại tỉnh Yên Bái; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: đường A1, thị trấn CP, huyện TY, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Ngọc D1 (sinh năm 1959, đã chết) và bà Lê Thị Y, sinh năm 1961; có vợ là Nguyễn Phương N3, sinh năm 1990 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2014 và con nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án: không; Tiền sự: không; Nhân thân: chưa bị kết án và chưa bị xử lý vi phạm hành chính; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/01/2022 đến ngày 01/4/2022 được tại ngoại và áp dụng biện pháp Bảo lĩnh, có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra trong vụ án còn các bị cáo Nguyễn Sơn B, Phạm Văn N, Nguyễn Tiến C. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Đặng Thị N1 không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ, ngày 30/12/2021, cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên tiếp nhận Nguyễn Tiến C (sinh năm 1992, trú tại: Tổ dân phố Đồng Tâm, thị trấn TC, huyện CT) ra tự thú về hành vi đánh bạc. Nguyễn Tiến C khai báo đã sử dụng tài khoản SJK7AETT004 do Phạm Văn N (sinh năm 1987, trú tại: thị trấn TC, huyện CT, tỉnh Điện Biên) cung cấp để đánh bạc bằng hình thức cá độ bóng đá trên mạng Internet. Cơ quan điều tra đã triệu tập Phạm Văn N đến làm việc, tại Cơ quan CSĐT, Phạm Văn N thừa nhận đã cung cấp tài khoản đánh bạc cho C, đồng thời tự khai nhận hành vi đánh bạc của mình và các đối tượng liên quan, cung cấp tài khoản mật khẩu sử dụng để đánh bạc cho cơ quan điều tra. Từ các tài liệu thu thập được, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên xác định các đối tượng đánh bạc dưới hình thức cá độ bóng đá trên mạng internet theo một hệ thống tài khoản đánh bạc có tên mã “SJK7AE”, cụ thể như sau:

Vào khoảng tháng 6/2021, Nguyễn Thành T lấy tài khoản cá độ bóng đá qua mạng Internet cấp độ Master là SJK7AE từ người tên Lê Quốc T1 (ở Hà Nội), trong tài khoản có 200.000 điểm. Từ tài khoản này, T đã chia ra các tài khoản cấp độ Agent gồm SJK7AEAT, SJK7AETT, SJK7AE96, SJK7AEA3, SJK7AE00, SJK7AEHT, SJK7AEH2 và chuyển cho những người khác để cùng tham gia đánh bạc với mình, cụ thể như sau: Tài khoản SJK7AEA3, SJK7AE00 do T tự quản lý và tạo tài khoản Member SJK7AE00AK1 (với hạn mức 1.000 điểm, quy ước mỗi điểm giá 15.000 đồng) cấp cho Bùi Đình K; tài khoản SJK7AEHT T cấp cho Trần Phương P, bên trong có sẵn 10.000 điểm, cả hai thỏa thuận 01 điểm trong tài khoản có giá là 15.000đồng, Trần Phương Ptạo tài khoản Member SJK7AEHT002 để tự đánh bạc với T. Tài khoản SJK7AEAT, SJK7AETT đều có sẵn 10.000 điểm, T giao cho Lê Đình H, cả hai thỏa thuận:

01 điểm trong tài khoản SJK7AEAT có giá 7.000đồng, tài khoản SJK7AETT giá là 10.000đồng. H tạo ra 05 tài khoản Member rồi cấp cho Phạm Văn N 03 tài khoản gồm SJK7AEAT678 (có hạn mức 2.000 điểm đến 3.000 điểm), SJK7AEATBBB (có hạn mức 2.000 điểm đến 3.000 điểm), SJK7AETT004 (có hạn mức 1.000 điểm), quy ước với nhau mỗi điểm là 20.000 đồng; cấp cho Phùng Đức A tài khoản SJK7AEAT00K có hạn mức 1.000 điểm, quy ước với nhau mỗi điểm là 30.000 đồng; cấp cho Trần Văn M tài khoản SJK7AEAT004 có hạn mức 100 điểm đến 200 điểm, quy ước với nhau mỗi điểm là 50.000 đồng để các đối tượng này tham gia cá độ bóng đá và thanh toán thắng thua với H, số điểm mà các tài khoản này đánh bạc H sử dụng để đánh ngược lại với Nguyễn Thành T.

Nguyễn Sơn B không thuộc đường dây đánh bạc dưới tài khoản Master “SJK7AE” của Nguyễn Thành T. Tuy nhiên, khi được triệu tập đến Cơ quan điều tra, B tự khai nhận vào khoảng tháng 11/2021, B lấy tài khoản Agent SJK70419 từ một người tên Lê Quốc T1 rồi tạo tài khoản Member SJK70419000 và chuyển cho Nguyễn Thành T để T thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức cá độ bóng đá.

Trong đường dây đánh bạc bằng hình thức cá độ qua mạng mà các bị cáo tham gia gồm các tài khoản với cấp độ quản lý, hạn mức điểm khác nhau, theo cấp độ giảm dần như sau: SUPER -> MASTER -> AGENT -> MEMBER.

- Tài khoản cao nhất là SUPER SJK7 (tài khoản tổng) (hiện chưa xác định được chính xác đối tượng sở hữu tài khoản này) có các quyền hạn: Tách từ tài khoản SJK7 thành các tài khoản MASTER, theo dõi tỷ lệ thắng thua, số tiền cược của các tài khoản cấp dưới gồm MASTER, AGENT, MEMBER, chấp nhận hoặc hủy cá cược với các tài khoản cấp dưới.

- Tài khoản tiếp theo là MASTER (cấp 1): Gồm hai ký tự bất kỳ sau số 7 do SUPER đặt khi tách (ví dụ: SJK7AE), có các quyền hạn như SUPER nhưng chỉ đối với các tài khoản cấp dưới gồm AGENT, MEMBER.

- Tài khoản tiếp theo là AGENT (cấp 2): gồm 02 ký tự sau ký tự MASTER, do MASTER tự đặt khi tạo lập (ví dụ: SJK7AEAT), có quyền quản lý như SUPER đối với các tài khoản MEMBER.

- Tài khoản MEMBER (cấp 3): Gồm các ký tự sau tài khoản AGENT, do tài khoản AGENT tự đặt khi tạo lập (ví dụ: SJK7AETT004), từ tài khoản này, người đánh bạc mới có thể tham gia đặt cược các trận bóng đá.

Cách thức đánh bạc: Người chơi sử dụng thiết bị điện tử có kết nối internet truy cập vào tài khoản, mật khẩu được cấp và sử dụng điểm có trong tài khoản để đặt cược. Hình thức đặt cược và tỷ lệ thắng, thua sẽ thể hiện trên website sau trận đấu, số điểm sẽ tương ứng với trị giá số tiền do các bên tham gia cá cược tự quy ước với nhau bằng VNĐ, tùy theo từng tài khoản và người chơi xác định trị giá mỗi điểm là bao nhiêu tiền. Đối với mỗi trận đấu của các đội tuyển Quốc gia hay của các câu lạc bộ tại các giải đấu như: Giải ngoại hạng Anh, SERIA (Italia), LALIGA (Tây Ban Nha),… người chơi có thể chọn các hình thức đặt cược hay gọi là "kèo" có sẵn để đặt cược với số điểm bất kỳ trong quỹ điểm mà tài khoản đang có. Theo kết quả của trận bóng đá và tỷ lệ được thua của từng "kèo" cá cược, người chơi dự đoán đúng sẽ nhận được điểm, thua sẽ mất điểm, hòa được trả lại điểm. Khi cá cược, tỷ lệ thắng thua không ổn định mà thường xuyên thay đổi theo tình hình trận đấu. Một số loại “kèo” cá độ các bị can thường thực hiện để đánh bạc với nhau trong vụ án như: Kèo “Tài/Xỉu”, kèo “Cược chấp”, kèo 0:0 (Kèo đồng banh), kèo 0:0.5, kèo tỷ số, kèo dự đoán đội nào ghi bàn trước, đội nào nhận thẻ phạt trước, đội nào được ném biên trước… Kết thúc trận đấu, website sẽ hiển thị kết quả thắng, thua và tổng hợp số điểm thắng, thua tương ứng. Người chơi căn cứ kết quả thắng, thua để thanh toán bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng. Việc quy đổi điểm dùng để đặt cược trên trang web thành tiền do người cấp tài khoản và người nhận tài khoản tự thỏa thuận và quy ước với nhau. Hạn mức điểm, nạp điểm vào tài khoản, việc thanh toán thắng thua cũng do hai bên tự thỏa thuận sau đó trả trực tiếp bằng tiền mặt hoặc chuyển qua tài khoản ngân hàng cho nhau, thời gian thanh toán thường vào thứ 2 hằng tuần, cũng có trường hợp hạn mức tiền thắng thua do hai bên thống nhất riêng với nhau, không theo tuần.

Hành vi đánh bạc giữa các bị cáo được xác định như sau:

1. Bị cáo Nguyễn Thành T Số lần đánh bạc, số tiền đánh bạc của bị cáo Nguyễn Thành T được tính theo các lần đánh bạc với bị cáo Lê Đình H, bị cáo Trần Phương P, bị cáo Bùi Đình K và bị cáo Nguyễn Sơn B, cụ thể:

* Với bị cáo Lê Đình H - Tài khoản Member SJK7AETT004: Từ ngày 20/10/2021 đến ngày 29/12/2021, Nguyễn Thành T thực hiện cá cược 267 trận (471 kèo cá độ) với tổng số điểm đặt cược 13.442, tương đương 134.420.000 đồng. Xác định tổng số tiền đánh bạc T đánh bạc với Lê Đình H là 195.766.900 đồng (thắng 61.346.900 đồng, thua 54.022.500 đồng). Trong đó có 04/267 trận với tổng số tiền đánh bạc là 25.826.600 đồng, đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự (từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng), không có lần đánh bạc nào trên 50.000.000 đồng. Quá trình đánh bạc với tài khoản này, Nguyễn Thành T thắng và thu lợi số tiền là 7.324.400 đồng.

- Tài khoản Member SJK7AEAT678: Từ ngày 06/8/2021 đến ngày 05/12/2021, Nguyễn Thành T thực hiện cá cược 93 trận (189 kèo cá độ) với tổng số điểm cược là 72.626, tương đương 508.382.000 đồng. Xác định tổng số tiền T đánh bạc với Lê Đình H là 747.137.020 đồng (thắng 238.755.020 đồng, thua 155.245.650 đồng). Trong đó, có 33/93 trận với tổng số tiền đánh bạc là 578.729.760 đồng (tiền thắng là 203.277.760 đồng, tiền thua là 78.228.500 đồng) đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự (từ 5.000.000 đồng trở lên); có 02/93 lần đánh bạc với số tiền trên 50.000.000 đồng, với số tiền đánh bạc là 127.357.440 đồng (tiền thắng là 48.110.440 đồng, tiền thua là 6.363.630 đồng). Quá trình đánh bạc với tài khoản này, Nguyễn Thành T thắng và thu lợi số tiền là 83.509.370 đồng.

- Tài khoản Member SJK7AEATBBB: Từ ngày 12/12/2021 đến ngày 26/12/2021, Nguyễn Thành T thực hiện cá cược 18 trận (36 kèo cá độ) với tổng số điểm cược là 6.085, tương đương 42.595.000 đồng. Xác định tổng số tiền T đánh bạc với Lê Đình H là 62.341.860 đồng (thắng 19.746.860 đồng, thua 15.134.630 đồng). Trong đó, có 04/18 trận với tổng số tiền đánh bạc là 26.680.500 đồng (tiền thắng là 8.480.500 đồng, tiền thua là 6.888.000 đồng) đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự (từ 5.000.000 đồng trở lên). Không có trận nào đánh bạc trên 50.000.000 đồng. Quá trình đánh bạc với tài khoản này, Nguyễn Thành T thắng và thu lợi số tiền là 4.612.230 đồng.

- Tài khoản Member SJK7AEAT004: Từ ngày 15/9/2021 đến ngày 27/11/2021, Nguyễn Thành T thực hiện cá cược 57 trận (89 kèo cá độ) với tổng số điểm cược là 11.600, tương đương 81.200.000 đồng. Xác định tổng số tiền T đánh bạc với Lê Đình H là 114.926.000 đồng (thắng 33.726.000 đồng, thua 25.291.000 đồng). Trong đó, có 01/57 trận (01 kèo cá độ) với số tiền đánh bạc là 5.068.000 đồng, đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự. Với tài khoản này, Nguyễn Thành T thắng và thu lợi số tiền là 8.435.000 đồng.

- Tài khoản Member SJK7AEAT00K: Từ ngày 07/8/2021 đến ngày 05/9/2021, Nguyễn Thành T thực hiện cá cược 141 trận (217 kèo cá độ) với tổng số điểm cược là 5.049, tương đương 35.343.000 đồng. Tổng số tiền Nguyễn Thành T đánh bạc với Lê Đình H là 51.097.900 đồng (thắng 15.754.900 đồng, thua 13.346.200 đồng). Trong đó không có lần nào số tiền đánh bạc đến 5.000.000 đồng. Quá trình đánh bạc với tài khoản này, Nguyễn Thành T thắng và thu lợi số tiền là 2.408.700 đồng.

* Với bị cáo Bùi Đình K - Tài khoản Member SJK7AE00AK1: Từ ngày 28/8/2021 đến ngày 08/9/2021, Nguyễn Thành T thực hiện 166 lần đánh bạc (366 kèo cá độ) với tổng số điểm cược là 276.145, tương đương 4.142.175.000 đồng. Số tiền Nguyễn Thành T đánh bạc Bùi Đình K là 5.763.040.050 đồng (thắng 1.620.865.050 đồng, thua 1.358.320.500 đồng). Trong đó, có 109/166 lần đánh bạc (353 kèo cá độ) đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự (số tiền đánh bạc từ 5.000.000 đồng trở lên) với tổng số tiền đánh bạc là 3.003.126.450 đồng (tiền thắng là 310.221.450 đồng, tiền thua là 1.279.958.550 đồng); có 46/166 lần đánh bạc từ 50.000.000 đồng trở lên, tổng số tiền đánh bạc là 2.758.084.500 đồng (tiền thắng là 1.310.224.500 đồng, tiền thua là 77.491.950 đồng). Quá trình đánh bạc với tài khoản này, Nguyễn Thành T thắng và thu lợi số tiền là 262.544.550 đồng.

* Với bị cáo Trần Phương P:

T giao cho P Agent SJK7AEHT nhưng P chỉ mở một tài khoản Member SJK7AEHT002 để đánh bạc với T. Cụ thể như sau: Từ ngày 23/12/2021 đến ngày 27/12/2021, Nguyễn Thành T đã thực hiện cá cược 88 trận (241 kèo cá độ) với tổng số điểm cược là 12.326, tương đương 184.890.000 đồng. Số tiền Nguyễn Thành T đánh bạc với Trần Phương P là 227.299.950 đồng (thắng 42.409.950 đồng, thua 87.089.250 đồng). Trong đó, có 09/88 lần đánh bạc đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự (số tiền đánh bạc từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng) với tổng số tiền 118.243.200 đồng (tiền thắng là 20.893.200 đồng, tiền thua là 49.187.250 đồng); không có lần đánh bạc nào với số tiền trên 50.000.000 đồng. Quá trình đánh bạc với tài khoản này, Nguyễn Thành T thua số tiền 44.679.300 đồng.

* Với bị cáo Nguyễn Sơn B:

T khai sau khi nhận tài khoản SJK70419000, T không trực tiếp sử dụng mà chuyển cho một người tên là B ở Hà Nội (không rõ lai lịch cụ thể) để người này đánh bạc, quy ước mỗi điểm là 20.000 đồng. T rủ Bùi Đình K tham gia cùng, K chịu 1.000 đồng/điểm, việc thanh toán do T thực hiện. Do không xác định được người tên B nên không có cơ sở để xác định chính xác số tiền K, T đã đánh bạc mà chỉ xác định được Nguyễn Thành T sử dụng tài khoản SJK70419000 để cá cược và thanh toán tiền thắng thua với Nguyễn Sơn B, cụ thể: Từ ngày 01/12/2021 đến ngày 12/12/2021, Nguyễn Thành T đã thực hiện 41 lần đánh bạc (105 kèo cá độ) với tổng số điểm cược là 343.056, tương đương 6.175.008.000 đồng. Số tiền Nguyễn Thành T đánh bạc với Nguyễn Sơn B là 8.398.694.880 đồng (thắng 2.223.686.880 đồng, thua 2.160.286.020 đồng). Tất cả các lần đánh bạc đều trên 5.000.000 đồng, có 38/41 lần đánh bạc (100 kèo cá độ) có số tiền trên 50.000.000 đồng. Quá trình đánh bạc với tài khoản này, Nguyễn Thành T thắng và thu lợi số tiền là 63.400.860 đồng.

Tính tổng cộng cả 8 tài khoản cá độ bóng đá nêu trên, Nguyễn Thành T đã thực hiện 871 lần đánh bạc với Lê Đình H, Bùi Đình K, Trần Phương P, Nguyễn Sơn B (1.714 kèo cá độ) với tổng số tiền đánh bạc là 15.560.304.560 đồng (tiền thắng là 4.256.291.560 đồng, thua số tiền là 3.868.735.750 đồng), thu lợi số tiền là 387.555.810 đồng. Trong đó có 161/871 lần đánh bạc từ 05 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng, 86/871 lần đánh bạc từ 50.000.000 đồng trở lên. Tổng số tiền trong 247 lần đánh bạc đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự là 15.041.811.330 đồng.

2. Bị cáo Lê Đình H Với vai trò là Agent, mỗi một lần đặt cược cá độ thì Lê Đình H vừa đánh bạc với Nguyễn Thành T, vừa đánh bạc với người cầm tài khoản Member. Nếu người cầm tài khoản Member thắng cược thì H thua cược họ nhưng H lại thắng cược T và ngược lại. Số lần đánh bạc, số tiền đánh bạc của Lê Đình H được tính theo các lần đánh bạc với Nguyễn Thành T, Phạm Văn N, Nguyễn Tiến C, Trần Văn M, Phùng Đức A.

- Với tài khoản Member SJK7AETT004: Lê Đình H cấp cho Phạm Văn N với quy ước mỗi điểm 20.000 đồng, H không biết Phạm Văn N đưa tài khoản này cho Nguyễn Tiến C và nâng tiền lên mỗi điểm là 30.000 đồng. Do Lê Đình H là người giữ tài khoản Agent SJK7AETT, có quyền nhận hoặc hủy kèo cá cược của tài khoản Member do H tạo ra, Phạm Văn N chỉ được H cấp cho một tài khoản Sub (tài khoản phụ) của tài khoản Agent SJK7AETT có chức năng theo dõi quá trình cá độ. Vì vậy, xác định Lê Đình H đánh bạc với Nguyễn Tiến C với mỗi điểm là 20.000 đồng, H không phải chịu về số tiền vượt quá do Phạm Văn N tự đặt ra với Nguyễn Tiến C, cụ thể:

Từ ngày 20/10/2021 đến ngày 29/12/2021, Lê Đình H thực hiện 267 lần đánh bạc (471 kèo cá độ) với tổng số 13.442 điểm. Số tiền Lê Đình H đánh bạc với Nguyễn Tiến C là 391.533.800 đồng (trong đó tiền thắng 122.693.800 đồng, thua 101.284.200 đồng). Số tiền Lê Đình H đánh bạc với Nguyễn Thành T là 188.442.500 đồng (trong đó tiền thắng 54.022.500 đồng, thua 61.346.900 đồng). Tổng số tiền đánh bạc của Lê Đình H với cả Nguyễn Tiến C và Nguyễn Thành T là 579.976.300 đồng (trong đó tiền thắng 176.716.300 đồng, thua 162.631.100 đồng). Có 25/267 lần đánh bạc với số tiền từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng với tổng số tiền 227.166.600 đồng (trong đó tiền thắng là 73.176.000 đồng, tiền thua là 61.239.000 đồng). Không có trận nào cá cược trên 50.000.000 đồng. Quá trình đánh bạc với tài khoản này, Lê Đình H thắng và thu lợi số tiền là 14.085.200 đồng.

- Với tài khoản Member SJK7AEAT678: Từ ngày 06/8/2021 đến ngày 05/12/2021, Lê Đình H thực hiện 93 lần đánh bạc (189 kèo cá độ) với tổng số điểm cược là 72.626. Số tiền H đánh bạc với Nguyễn Thành T là 663.627.650 đồng, thắng 155.245.650 đồng, thua 238.755.020 đồng. Số tiền đánh bạc với Phạm Văn N là 2.134.677.200 đồng, số tiền thua là 443.559.000 đồng, số tiền thắng là 682.157.200 đồng. Tổng số tiền mà Lê Đình H đánh bạc với Nguyễn Thành T và Phạm Văn N là 2.798.304.850 đồng, thắng 837.402.850 đồng, thua 682.314.020 đồng. Trong đó có 77/93 lần đánh bạc (với 136 kèo cá cược) từ 5.000.000 đồng trở lên đến dưới 50.000.000 đồng, với số tiền đánh bạc là 1.328.032.000 đồng, thắng 350.982.400 đồng, thua 416.827.610 đồng; có 14/93 lần đánh bạc (với 51 kèo cá cược) từ 50.000.000 đồng trở lên, với số tiền đánh bạc là 1.461.470.910 đồng, thắng 484.799.910 đồng, thua 260.858.010 đồng. Quá trình đánh bạc với tài khoản này, Lê Đình H thắng và thu lợi số tiền là 155.088.830 đồng.

- Với tài khoản Member SJK7AEATBBB: Từ ngày 12/12/2021 đến ngày 26/12/2021, Lê Đình H thực hiện 18 lần đánh bạc (36 kèo cá độ) với tổng số 6.085 điểm cược. Số tiền Lê Đình H đánh bạc với Phạm Văn N là 178.121.200 đồng (trong đó tiền thắng 56.421.200 đồng, thua 43.241.800 đồng). Số tiền Lê Đình H đánh bạc với Nguyễn Thành T là 57.729.630 đồng (trong đó tiền thắng 15.134.630 đồng, thua 19.747.420 đồng). Tổng số tiền đánh bạc của Lê Đình H với cả Phạm Văn N và Nguyễn Thành T là 235.850.830 đồng (trong đó tiền thắng 71.555.830 đồng, thua 62.989.220 đồng). Có 15/18 lần đánh bạc (32 kèo cá độ) với số tiền từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng với tổng số tiền 224.335.130 đồng (tiền thắng là 69.490.130 đồng, tiền thua là 57.087.220 đồng). Không có lần đánh bạc nào trên 50.000.000 đồng. Quá trình đánh bạc với tài khoản này, Lê Đình H thắng và thu lợi số tiền là 8.566.610 đồng.

- Với tài khoản Member SJK7AEAT004: Từ ngày 15/9/2021 đến ngày 27/11/2021, Lê Đình H thực hiện 57 lần đánh bạc (89 kèo cá độ) với tổng số 11.600 điểm cược. Số tiền Lê Đình H đánh bạc với Trần Văn Mlà 820.900.000 đồng (trong đó tiền thắng 240.900.000 đồng, thua 180.650.000 đồng). Số tiền Lê Đình H đánh bạc với Nguyễn Thành T là 106.941.000 đồng (trong đó thắng 25.291.000 đồng, thua 33.726.000 đồng). Tổng số tiền đánh bạc của Lê Đình H với cả Trần Văn Mvà Nguyễn Thành T là 927.391.000 đồng (trong đó thắng 266.191.000 đồng, thua 214.376.000 đồng). Có 50/57 lần đánh bạc (80 kèo cá độ) với số tiền từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng với tổng số tiền 914.091.000 đồng (tiền thắng là 261.099.000 đồng, tiền thua là 213.369.000 đồng). Không có lần nào đánh bạc trên 50.000.000 đồng. Quá trình đánh bạc với tài khoản này, Lê Đình H thắng và thu lợi số tiền là 51.815.000 đồng.

- Với tài khoản Member SJK7AEAT00K: Từ ngày 07/8/2021 đến ngày 05/9/2021, Lê Đình H thực hiện 141 lần đánh bạc (217 kèo cá độ) với tổng số 5.049 điểm cược. Số tiền Lê Đình H đánh bạc với Phùng Đức A là 218.991.000 đồng (trong đó tiền thắng là 67.521.000 đồng, thua 57.198.000 đồng). Số tiền Lê Đình H đánh bạc với Nguyễn Thành T là 48.689.200 đồng (trong đó tiền thắng là 13.346.200 đồng, thua 15.754.900 đồng). Tổng số tiền đánh bạc của Lê Đình H với cả Phùng Đức A và Nguyễn Thành T là 267.680.200 đồng (trong đó tiền thắng 80.867.200 đồng, thua 72.952.900 đồng). Có 04/141 lần đánh bạc (28 kèo cá độ) với số tiền từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng với tổng số tiền 37.314.050 đồng (tiền thắng là 11.414.050 đồng, tiền thua là 8.652.900 đồng). Không có lần nào đánh bạc trên 50.000.000 đồng. Quá trình đánh bạc với tài khoản này, Lê Đình H thắng và thu lợi số tiền là 7.914.300 đồng.

Tổng cộng cả 5 tài khoản cá độ bóng đá nêu trên, Lê Đình H đã thực hiện 576 lần đánh bạc với Nguyễn Tiến C, Phạm Văn N, Nguyễn Thành T, Trần Văn M, Phùng Đức A (1.002 kèo cá độ) với tổng số tiền đánh bạc là 4.809.203.180 đồng (tiền thắng là 1.432.733.180 đồng, thua số tiền là 1.195.263.240 đồng, thu lợi số tiền là 237.469.940 đồng). Trong đó có 171/576 lần đánh bạc từ 05 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng, 14/576 lần đánh bạc từ 50.000.000 đồng trở lên.

Tổng số tiền của các lần đánh bạc đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự là 4.192.409.690 đồng.

3. Bị cáo Bùi Đình K Bùi Đình K nhận từ Nguyễn Thành T tài khoản Member SJK7AE00AK1 có hạn mức 1.000 điểm, quy ước giá trị mỗi điểm 15.000 đồng, thỏa thuận thanh toán tiền thắng thua với nhau hàng tuần bằng chuyển khoản hoặc đưa tiền mặt. K khai không sử dụng tài khoản SJK7AE00AK1 để trực tiếp đặt cược cá độ mà cấp tài khoản này cho Trần Văn H1, sinh năm: 1988, trú tại: Phường KT, thành phố L, tỉnh Lào Cai với quy ước giá trị mỗi điểm là 20.000 đồng để H1 đánh bạc và thanh toán thắng, thua với K còn K lại thanh toán thắng, thua với Nguyễn Thành T. Tuy nhiên, quá trình điều tra không đủ căn cứ để xác định H1 đã đánh bạc với K. Vì vậy xác định K vẫn sử dụng tài khoản Member SJK7AE00AK1 để cá cược và thanh toán thắng thua với Nguyễn Thành T, cụ thể:

Từ ngày 28/8/2021 đến ngày 08/9/2021, Bùi Đình K thực hiện 166 lần đánh bạc (366 kèo cá độ) với tổng số 276.145 điểm cược. Số tiền Bùi Đình K đánh bạc với Nguyễn Thành T là 5.500.495.500 đồng (tiền thắng là 1.358.320.500 đồng, thua 1.620.865.050 đồng), có 120/166 lần đánh bạc (278 kèo cá độ) với số tiền từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc là 3.357.026.100 đồng (tiền thắng là 324.671.100 đồng, tiền thua là 1.583.395.950 đồng); có 35/166 lần đánh bạc (83 kèo cá độ) với số tiền từ 50.000.000 đồng trở lên, với tổng số tiền đánh bạc là 2.141.189.400 đồng (tiền thắng là 1.032.779.400 đồng, tiền thua là 37.050.000 đồng). Tổng số tiền của các lần đánh bạc đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự là 5.498.215.500 đồng. Quá trình đánh bạc với tài khoản này, Bùi Đình K thua số tiền 262.544.550 đồng.

Quá trình điều tra, Bùi Đình K khai còn nhận cùng Nguyễn Thành T đánh bạc với tài khoản Member SJK70419000, tài khoản này T đưa cho một người K không rõ lai lịch ở Hà Nội sử dụng để đánh bạc cá độ bóng đá. K nhận với T mỗi điểm tính 1.000 đồng và thanh toán qua T. Với tài khoản này, trong thời gian từ ngày 01/12/2021 đến ngày 12/12/2021, Bùi Đình K đã thực hiện đánh bạc 41 lần (105 kèo cá độ) với tổng số điểm là 343.056 điểm. Do Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch người sử dụng tài khoản Member SJK70419000 nên chưa đủ căn cứ kết luận việc đánh bạc của Bùi Đình K với tài khoản này.

4. Bị cáo Trần Phương P Từ ngày 23/12/2021 đến ngày 27/12/2021, Trần Phương P đã sử dụng tài khoản Member SJK7AEHT002 thực hiện 88 lần đánh bạc với Nguyễn Thành T (241 kèo cá độ) với tổng số 12.326 điểm cược, tương đương số tiền cược là 184.890.000 đồng, thắng 87.089.250 đồng, thua 42.409.950 đồng. Tổng số tiền đánh bạc của Trần Phương P là 271.979.250 đồng. Trong đó, có 11/88 lần đánh bạc (73 kèo cá độ) với số tiền từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, với tổng số tiền là 172.284.750 đồng (tiền thắng là 64.059.750 đồng), tiền thua là 11.551.950 đồng. Không có lần nào đánh bạc với số tiền trên 50.000.000đồng. Tổng số tiền của các lần đánh bạc đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự là 172.284.750 đồng. Quá trình đánh bạc, Trần Phương Pthắng và thu lợi số tiền 44.679.300 đồng.

5. Bị cáo Trần Văn M Trần Văn Mnhận từ Lê Đình H tài khoản Member SJK7AEAT004 chưa có điểm sẵn, M đưa tiền mặt hoặc chuyển khoản cho Lê Đình H để H nạp điểm vào tài khoản, quy ước giá trị mỗi điểm là 50.000 đồng. Từ ngày 15/9/2021 đến ngày 27/11/2021, Trần Văn M đã thực hiện 57 lần đánh bạc với Lê Đình H (89 kèo cá độ) với tổng số 11.600 điểm cược, tương đương số tiền cược là 580.000.000 đồng, thắng 180.650.000 đồng, thua 240.900.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc của Trần Văn M là 760.650.000 đồng. Trong đó, có 47/57 lần đánh bạc (80 kèo) với số tiền từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, với tổng số tiền là 740.950.000 đồng (tiền thắng là 180.350.000 đồng, tiền thua là 225.750.000 đồng). Không có lần nào số tiền đánh bạc trên 50.000.000 đồng. Tổng số tiền trong các lần đánh bạc đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự là 740.950.000 đồng. Quá trình đánh bạc, Trần Văn M thua số tiền 60.250.000 đồng.

6. Bị cáo Phùng Đức A Phùng Đức A nhận từ Lê Đình H tài khoản Member SJK7AEAT00K có hạn mức 1.000 điểm, quy ước giá trị mỗi điểm là 30.000 đồng. Từ ngày 07/8/2021 đến ngày 05/9/2021, Phùng Đức A đã thực hiện 141 lần đánh bạc với Lê Đình H (217 kèo cá độ) với tổng số 5.009 điểm cược, tương đương số tiền cược là 150.270.000 đồng, thắng 57.198.000 đồng, thua 67.521.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc của Phùng Đức A là 207.468.000 đồng. Trong đó, có 5/141 lần đánh bạc (29 kèo cá độ) với số tiền từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, với tổng số tiền là 33.244.500 đồng (tiền thắng là 9.244.000 đồng, tiền thua là 9.936.000 đồng). Không có lần nào đánh bạc trên 50.000.000 đồng. Tổng số tiền trong các lần đánh bạc đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự là 33.244.500 đồng. Quá trình đánh bạc, Phùng Đức A thua số tiền 10.323.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2022/HS-ST ngày 18/11/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên đã quyết định:

Căn cứ Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thành T, Lê Đình H, Bùi Đình K, Trần Văn M, Trần Phương P, Phùng Đức A phạm tội “Đánh bạc” 2. Về hình phạt chính:

2.1. Áp dụng điểm b, điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T 03 (ba) năm tù. Khấu trừ cho bị cáo 114 ngày tạm giữ, tạm giam. Bị cáo còn phải chấp hành 02 (hai) năm 08 (tám) tháng 06 (sáu) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại.

2.2. Áp dụng điểm b, điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Đình H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Khấu trừ cho bị cáo 89 ngày tạm giữ, tạm giam. Bị cáo còn phải chấp hành 02 (hai) năm 03 (ba) tháng 01 (một) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại.

2.3. Áp dụng điểm b, điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Đình K 02 (hai) năm tù. Khấu trừ cho bị cáo 86 ngày tạm giữ, tạm giam. Bị cáo còn phải chấp hành 01 (một) năm 09 (chín) tháng 04 (bốn) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại.

2.4. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn M01 (một) năm 10 (mười) tháng tù. Khấu trừ cho bị cáo 86 ngày tạm giữ, tạm giam. Bị cáo còn phải chấp hành 01 (một) năm 07 (bảy) tháng 04 (bốn) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại.

2.5. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Phương P 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù. Khấu trừ cho bị cáo 86 ngày tạm giữ, tạm giam. Bị cáo còn phải chấp hành 01 (một) năm 05 (năm) tháng 04 (bốn) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại.

2.6. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phùng Đức A 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Khấu trừ cho bị cáo 86 ngày tạm giữ, tạm giam. Bị cáo còn phải chấp hành 01 (một) năm 03 (ba) tháng 04 (bốn) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Sơn B, Phạm Văn N, Nguyễn Tiến C, về hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 24/11/2022, bị cáo Nguyễn Thành T có đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo.

Ngày 29/11/2022, bị cáo Lê Đình H có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm hình phạt và xin được cải tạo không giam giữ.

Ngày 23/11/2022, bị cáo Bùi Đình K có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm hình phạt.

Ngày 29/11/2022, bị cáo Trần Phương P có đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo.

Ngày 29/11/2022, bị cáo Phùng Đức A có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm hình phạt và xin được cải tạo không giam giữ.

Ngày 29/11/2022, bị cáo Trần Văn M có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm hình phạt và xin được cải tạo không giam giữ.

* Tại phiên tòa phúc thẩm: Các bị cáo Lê Đình H, Bùi Đình K, Phùng Đức A, Trần Văn Mthừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu.

Bị cáo Lê Đình H xin giảm hình phạt và xin được hưởng án treo vì lý do bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã cung cấp thông tin tội phạm về đánh bạc cho Công an và đã bắt được đối tượng vi phạm pháp luật (có xác nhận của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Yên Bái), bị cáo đã thực hiện xong các khoản tiền thu lợi bất chính, hình phạt bổ sung, án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo có ủng hộ 500.000 đồng cho hội chữ thập đỏ thị trấn CP.

Bị cáo Bùi Đình K xin giảm hình phạt và xin được cải tạo không giam giữ vì lý do bị cáo không có tiền án, tiền sự; thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có công tố giác tội phạm tàng trữ trái phép chất ma túy cho Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện TY, có bà nội được Chủ tịch nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng Nhất, tích cực tham gia hoạt động thể thao của tỉnh, tham gia thiện nguyện cùng đoàn thanh niên xã HT, thành phố L, ủng hỗ phong trào Chung tay vì người nghèo có xác nhận của Ủy ban mặt trận tổ quốc huyện MT, tỉnh Lai Châu, bị cáo đã thực hiện xong hình phạt bổ sung là 10.000.000 đồng, nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Trần Văn Mxin giảm hình phạt và xin được cải tạo không giam giữ vì lý do bị cáo không có tiền án, tiền sự; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có công cung cấp thông tin về tội phạm trộm cắp tài sản cho Cơ quan CSĐT Công an huyện TY, có ông ngoại, bà ngoại được Chủ tịch Nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhì, hạng Ba, bị cáo đã nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo có ủng hộ 500.000 đồng cho hội chữ thập đỏ thị trấn CP, có mẹ là Lê Thị Y được tặng thưởng huy chương vì sự nghiệp giáo dục.

Bị cáo Phùng Đức A xin giảm hình phạt và xin được hưởng án treo vì lý do bị cáo không có tiền án, tiền sự; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có công cung cấp thông tin tội phạm về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Yên Bái, cung cấp thông tin tội phạm về ma túy cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TY; bị cáo có bố ruột được Chủ tịch Nước tặng Huy chương kháng chiến Hạng Nhì, được Quân giải phóng miền nam Việt Nam cấp giấy chứng nhận tặng Huy chương chiến sỹ giải phóng; bị cáo đang trực tiếp chăm sóc bố ruột là ông Phùng Đức E bị nhiễm chất độc hóa học do hoạt động kháng chiến tại chiến trường từ tháng 7/1972- tháng 10/1976 và có tỉ lệ suy giảm khả năng lao động là 68%, bị cáo có mẹ là Nguyễn Thị G được tặng thưởng kỷ niệm chương vì sức khỏe nhân dân; bị cáo tích cực tham gia phòng chống dịch covid tại chốt số 6 xã MQ từ ngày 02/8/2021 đến ngày 29/11/2021 có xác nhận của Trung tâm y tế huyện TY. Bị cáo có số lần đánh bạc ít nhất trong các bị cáo trong cùng vụ án, đã nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và hiện nay đang đã công tác tại tại Trung tâm y tế huyện TY, tỉnh Yên Bái.

Bị cáo Nguyễn Thành T, Trần Phương P có đơn kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo nhưng đều vắng mặt nên không có lời khai tại phiên tòa.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham dự phiên tòa có quan điểm như sau:

+ Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Kháng cáo của các bị cáo trong thời hạn, đúng quy định về hình thức nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

+ Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm có đủ căn cứ xác định các bị cáo Nguyễn Thành T, Lê Đình H, Bùi Đình K, Trần Văn M, Trần Phương P, Phùng Đức A phạm tội “Đánh bạc” như Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định.

Xét kháng cáo của các bị cáo: Do tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Lê Đình H, Bùi Đình Kcó xuất trình nhiều tình tiết mới, đề nghị HĐXX chấp nhận giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Lê Đình H, Bùi Đình K.

Bị cáo Phùng Đức A có số lần đánh bạc ít nhất so với các bị cáo trong cùng vụ án, xét về nhân thân cũng như địa chỉ nơi cư trú, nơi làm việc thấy bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo.

Đối với các các bị cáo Nguyễn Thành T, Trần Văn M, Trần Phương P: do các bị cáo không có tình tiết đặc biệt mới do đó không có căn cứ đề nghị chấp nhận kháng cáo.

Lời sau cùng: Các bị cáo đều xin giảm hình phạt và xin được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Thư ký trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, các kháng cáo của các bị cáo đều trong hạn và đúng thủ tục luật định, đủ điều kiện xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Các bị cáo Nguyễn Thành T, Trần Phương Pđã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần vào các phiên tòa ngày 13/4/2023, 16/5/2023 nhưng tại phiên tòa phúc thẩm ngày 13/6/2023, bị cáo T vắng mặt không có lý do, bị cáo P vắng mặt và có đơn xin hoãn phiên tòa vì lý do cách ly covid. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự, xét thấy sự vắng mặt của các bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử, do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo Nguyễn Thành T, Trần Phương P.

[2]. Về hành vi phạm tội:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa có đủ căn cứ để Hội đồng xét xử xác định: Từ tháng 6/2021 đến ngày 30/12/2021, bị cáo Nguyễn Thành T lấy tài khoản cá độ bóng đá qua mạng Internet cấp độ Master (cấp 1) là SJK7AE từ người tên Lê Quốc T1(ở Hà Nội). Từ tài khoản này, bị cáo T đã chia ra các tài khoản cấp độ Agent (cấp 2) gồm SJK7AEAT, SJKTAETT, SJK7AE96, SJK7AEA3, SJK7AE00, SJK7AEHT, SJK7AEH2 và chuyển cho những người khác để cùng tham gia đánh bạc với mình, cụ thể: Tài khoản SJK7AEA3, SJK7AE00 do bị cáo T tự quản lý và tạo tài khoản Member (cấp 3) SJK7AE00AK1 cấp cho bị cáo Bùi Đình K; tài khoản SJK7AEHT bị cáo T cấp cho bị cáo Trần Phương P, bị cáo P tạo tài khoản Member (cấp 3) SJK7AEHT002 để đánh bạc. Hai tài khoản Agent (cấp 2) SJK7AEAT, SJK7AETT, bị cáo T giao cho bị cáo Lê Đình H; bị cáo Thành tạo ra 05 tài khoản Member (cấp 3) rồi cấp cho bị cáo Phạm Văn N 03 tài khoản gồm SJK7AEAT678, SJK7AEATBBB, SJK7AETT004; cấp cho bị cáo Phùng Đức A tài khoản SJK7AEAT00K; cấp cho bị cáo Trần Văn Mtài khoản SJK7AEAT004; tài khoản SJK7AE96 theo lời khai của bị cáo cấp cho người tên Bình ở thành phố L, tuy nhiên quá trình điều tra Cơ quan CSĐT không làm rõ được; tài khoản SJK7AEH2 theo lời khai của bị cáo T không sử dụng đến. Các bị cáo sử dụng phương tiện điện tử (điện thoại di động,) có kết nối Internet cá độ bóng đá được thua bằng tiền qua các website www.wabi88.com, www.soty88.com, www.viva88.com với số lần và số tiền cá độ bóng đá của từng bị cáo cụ thể như sau:

Bị cáo Nguyễn Thành T đã thực hiện 871 lần đánh bạc với các bị cáo Lê Đình H, Bùi Đình K, Trần Phương P, Nguyễn Sơn B. Trong đó có 161/871 lần đánh bạc từ 05 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng, 86/871 lần đánh bạc từ 50.000.000 đồng trở lên. Tổng số tiền đánh bạc đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự là 15.041.811.330 đồng; thu lợi số tiền 387.555.810 đồng (ba trăm tám mươi bảy triệu năm trăm năm mươi năm nghìn tám trăm mười đồng).

Bị cáo Lê Đình H đã thực hiện 576 lần đánh bạc với các bị cáo Nguyễn Tiến C, Phạm Văn N, Nguyễn Thành T, Trần Văn M, Phùng Đức A. Trong đó có 171/576 lần đánh bạc từ 05 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng, 14/576 lần đánh bạc từ 50.000.000 đồng trở lên. Tổng số tiền của các lần đánh bạc đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự là 4.192.409.690 đồng; thu lợi số tiền 237.469.940 đồng (hai trăm ba mươi bảy triệu bốn trăm sáu mươi chín nghìn chín trăm bốn mươi đồng).

Bị cáo Bùi Đình K thực hiện 166 lần đánh bạc với bị cáo Nguyễn Thành T, có 120/166 lần đánh bạc với số tiền từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, có 35/166 lần đánh bạc với số tiền từ 50.000.000 đồng trở lên. Tổng số tiền của các lần đánh bạc đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự là 5.498.215.500 đồng; số tiền thua là 262.544.550 đồng.

Bị cáo Trần Phương P thực hiện 88 lần đánh bạc với bị cáo Nguyễn Thành T. Trong đó, có 11/88 lần đánh bạc với số tiền từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, không có lần nào đánh bạc với số tiền trên 50.000.000đ. Tổng số tiền của các lần đánh bạc đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự là 172.284.750 đồng; thu lợi số tiền 44.679.300 đồng (bốn mươi bốn triệu sáu trăm bảy mươi chín nghìn ba trăm đồng).

Bị cáo Trần Văn Mđã thực hiện 57 lần đánh bạc với bị cáo Lê Đình H, trong đó có 47/57 lần đánh bạc với số tiền từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, không có lần nào số tiền đánh bạc trên 50.000.000 đồng. Tổng số tiền trong các lần đánh bạc đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự là 740.950.000 đồng; số tiền thua là 60.250.000 đồng.

Bị cáo Phùng Đức A đã thực hiện 141 lần đánh bạc với bị cáo Lê Đình H, trong đó có 05/141 lần đánh bạc với số tiền từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, không có lần nào đánh bạc trên 50.000.000 đồng. Tổng số tiền trong các lần đánh bạc đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự là 33.244.500 đồng; số tiền thua là 10.323.000 đồng.

Như vậy, có đủ cơ sở để xác định các bị cáo Nguyễn Thành T, Lê Đình H, Bùi Đình K, Trần Phương P, Phùng Đức A, Trần Văn M đã có hành vi cùng tham gia với nhau cá độ bóng đá với mục đích được thua bằng tiền mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép. Hành vi của các bị cáo gây nguy hại lớn cho xã hội, đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc quy định tại Điều 321 của Bộ luật Hình sự như Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết và quyết định là có căn cứ.

[3]. Về tình tiết định khung hình phạt:

Các bị cáo đã sử dụng phương tiện điện tử là điện thoại di động có kết nối Internet để thực hiện việc cá độ bóng đá được thua bằng tiền qua các website www.wabi88.com, www.soty88.com, www.viva88.com đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt “sử dụng mạng Internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Nguyễn Thành T, Lê Đình H, Bùi Đình K, còn có từ 02 lần trở lên đánh bạc với số tiền từ trên 50.000.000 đồng, đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự, tội phạm có mức hình phạt tù từ 03 năm đến 07 năm, thuộc trường hợp nghiêm trọng.

Các bị cáo Trần Phương P, Trần Văn M, Phùng Đức A nhiều lần “sử dụng mạng Internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội” đánh bạc với số tiền từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, không có lần nào đánh bạc trên 50.000.000 đồng do đó các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

[4]. Xét kháng cáo của các bị cáo: Trước khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã xem xét cân nhắc đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với từng bị cáo cụ thể như sau:

[4.1]. Bị cáo Nguyễn Thành T về nhân thân không có tiền án, có 1 tiền sự về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo đã thực hiện việc nộp tiền vi phạm xong, trong vụ án này bị cáo là người giữ vai trò chính đồng thời cũng là người tham gia đánh bạc nhiều nhất, cụ thể bị cáo có 247 lần đánh bạc từ 5.000.000 đồng trở lên, do đó, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Về tình tiết giảm nhẹ, quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án và được Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên có văn bản đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ (BL 1485); bị cáo có mẹ ruột là bà Đào Thị Thọ được Chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến Hạng Nhất (BL 1486); trong quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo và gia đình chấp hành tốt chính sách pháp luật của nhà nước, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo để xử phạt bị cáo 03 (ba) năm tù giam là đúng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo.

Trong quá trình Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội thụ lý vụ án cho đến ngày xét xử theo trình tự phúc thẩm bị cáo cũng không cung cấp được tài liệu đặc biệt nào mới để HĐXX làm căn cứ xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được. Hơn nữa, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng bị cáo vắng mặt không có lý do, điều đó cho thấy thái độ chấp hành pháp luật của bị cáo chưa cao, do đó HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

[4.2]. Bị cáo Lê Đình H về nhân thân không có tiền án, tiền sự. Bị cáo có 185 lần đánh bạc từ 5.000.000 đồng trở lên, do đó áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; trong tháng 07/2022 bị cáo cung cấp thông tin tội phạm về ma túy cho Công an thị trấn CP, huyện TY, tỉnh Yên Bái, căn cứ thông tin của bị cáo H cung cấp Cơ quan CSĐT Công an huyện TY đã bắt được đối tượng Phạm Trọng Đạt và khởi tố vụ án, khởi tố bị can về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy (BL 2027- 2027b), ngay khi được cơ quan chức năng triệu tập lên để làm việc, bị cáo đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án, đồng thời khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân và các đối tượng có liên quan; bị cáo có ông ngoại là ông Bùi Đức Tố được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến Hạng Nhất, Huân chương quân công Hạng Ba, Huy chương Chiến sĩ vẻ vang Hạng Nhất, Nhì, Ba (BL 2020-2025); trong quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo và gia đình chấp hành tốt chính sách pháp luật của nhà nước. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo để xử phạt bị cáo 02 (hai) năm 06 (sáu) năm tù giam là đúng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo xuất trình các tài liệu thể hiện bị cáo đã cung cấp thông tin tội phạm về đánh bạc cho Công an và đã bắt được đối tượng vi phạm pháp luật (có xác nhận của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Yên Bái), bị cáo đã thực hiện xong các khoản tiền thu lợi bất chính, hình phạt bổ sung, án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo có ủng hộ 500.000 đồng cho hội chữ thập đỏ thị trấn CP. Mặc dù đây là những tình tiết mới nhưng HĐXX cũng không thể cho bị cáo hưởng án treo được vì hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng. Tuy nhiên, để khích lệ động viên bị cáo yên tâm cải tạo, HĐXX giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

[4.3]. Bị cáo Bùi Đình K về nhân thân không có tiền án, tiền sự. Bị cáo có 155 lần đánh bạc từ 5.000.000 đồng trở lên, do đó áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; trong tháng 08/2022 bị cáo cung cấp thông tin tội phạm về ma túy cho Công an xã LT, huyện TY, tỉnh Yên Bái, trên cơ sở thông tin của bị cáo Bùi Đình K Cơ quan CSĐT Công an huyện TY bị đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với đối tượng Triệu Quang S về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy; ngay khi được cơ quan chức năng triệu tập lên để làm việc, bị cáo đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án, đồng thời khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân và các đối tượng có liên quan; bị cáo có bác ruột là ông Bùi Thanh Phong được Chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến Hạng Nhì, Huy chương Chiến sĩ vẻ vang Hạng Nhất, Nhì, Ba, có bà nội là bà Lâm Thị D2 được Chủ tịch Nước tặng Huân chương kháng chiến Hạng Nhất (BL 2339-2343-2025); trong quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo và gia đình chấp hành tốt chính sách pháp luật của nhà nước. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo để xử phạt bị cáo 02 (hai) năm tù giam là đúng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo xuất trình các tài liệu thể hiện bị cáo tích cực tham gia hoạt động thể thao của tỉnh, tham gia thiện nguyện cùng đoàn thanh niên xã HT, thành phố L, ủng hỗ phong trào Chung tay vì người nghèo có xác nhận của Ủy ban mặt trận tổ quốc huyện MT, tỉnh Lai Châu, bị cáo đã thực hiện xong hình phạt bổ sung là 10.000.000 đồng, nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Mặc dù đây là những tình tiết mới nhưng HĐXX cũng không thể cho bị cáo hưởng án treo được vì hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng. Tuy nhiên, để khích lệ động viên bị cáo yên tâm cải tạo, HĐXX giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

[4.4]. Bị cáo Trần Phương P về nhân thân không có tiền án, tiền sự. Bị cáo có 11 lần đánh bạc từ 5.000.000 đồng trở lên, do đó áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo; về tình tiết giảm nhẹ, quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; trong tháng 06/2022 bị cáo cung cấp thông tin tội phạm về ma túy cho Công an thị trấn PL, huyện BT, tỉnh Lào Cai, trên cơ sở thông tin của bị cáo P, Cơ quan CSĐT Công an huyện BT bị đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với đối tượng Đào QS về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy; ngay khi được cơ quan chức năng triệu tập lên để làm việc, bị cáo đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án, đồng thời khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân và các đối tượng có liên quan; bị cáo có ông nội là ông Trần Phương Sơn là bộ đội thuộc đơn vị F379 tham gia quân tình nguyện Việt Nam tại Lào (BL 2521); trong quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo và gia đình chấp hành tốt chính sách pháp luật của nhà nước. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo để xử phạt bị cáo P 01 (một) năm 08 (m) tù giam là đúng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo.

Trong quá trình Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội thụ lý vụ án cho đến ngày xét xử theo trình tự phúc thẩm, bị cáo có nộp giấy xác nhận tham gia thiện nguyện cùng đoàn thanh niên xã HT, thành phố L, đã nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, ngoài ra cũng không cung cấp được tài liệu đặc biệt nào mới để HĐXX làm căn cứ xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được, do đó HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

[4.5]. Bị cáo Trần Văn M về nhân thân không có tiền án, tiền sự. Về tình tiết tăng nặng: bị cáo có 47 lần đánh bạc từ 5.000.000 đồng trở lên, do đó áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; trong tháng 10/2022 bị cáo cung cấp thông tin về tội phạm trộm cắp tài sản xảy ra tại thôn TL, xã C2, huyện TY, tỉnh Yên Bái cho Công an xã C2, trên cơ sở thông tin bị cáo cung cấp, Cơ quan CSĐT Công an huyện TY đã đã khởi tố vụ án, bắt khởi tố bị can đối với đối tượng Lê Ngọc X kịp thời thu hồi được tài sản đã bị trộm cắp trả lại chủ sở hữu; ngay khi được cơ quan chức năng triệu tập lên để làm việc, bị cáo đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án, đồng thời khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân và các đối tượng có liên quan; bị cáo có bà ngoại là bà Phan TM được Chủ tịch Nước tặng Huân chương kháng chiến Hạng Ba; có ông ngoại là ông Lê QL được Chủ tịch Nước tặng Huân chương kháng chiến Hạng Nhì; quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo và gia đình chấp hành tốt chính sách pháp luật của nhà nước. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo để xử phạt bị cáo Trần Văn M01 (một) năm 10 (mười) tù giam là đúng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo.

Trong quá trình Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội thụ lý vụ án cho đến ngày xét xử theo trình tự phúc thẩm, bị cáo đã nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, có ủng hộ 500.000 đồng cho hội chữ thập đỏ thị trấn CP, có mẹ là Lê Thị Y được tặng thưởng huy chương vì sự nghiệp giáo dục, ngoài ra, bị cáo cũng không cung cấp được tài liệu đặc biệt nào mới để HĐXX làm căn cứ xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được, do đó HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

[4.6]. Bị cáo Phùng Đức A sinh ra và cư trú tại tỉnh Yên Bái; bản thân được gia đình tạo điều kiện cho học tập văn hóa đến lớp 12/12 và đi học chuyên nghiệp, năm 2005 nhận công tác tại Trung tâm y tế huyện TY, tỉnh Yên Bái. Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Về tình tiết tăng nặng: bị cáo có 05 lần đánh bạc từ 5.000.000 đồng trở lên, do đó áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; trong tháng 06/2022 bị cáo cung cấp thông tin tội phạm về ma túy tại thị trấn CP, huyện TY, tỉnh Yên Bái cho Công an xã CT trên cơ sở thông tin bị cáo cung cấp, Cơ quan CSĐT Công an huyện TY đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với đối tượng Tạ Tiến Nam; ngay khi được cơ quan chức năng triệu tập lên để làm việc, bị cáo đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án, đồng thời khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân và các đối tượng có liên quan; bị cáo có bố ruột là ông Phùng Đức E được Chủ tịch Nước tặng Huy chương kháng chiến Hạng Nhì, được Quân giải phóng miền nam Việt Nam cấp giấy chứng nhận tặng Huy chương chiến sỹ giải phóng; bị cáo đang trực tiếp chăm sóc bố ruột là ông Phùng Đức E bị nhiễm chất độc hóa học do hoạt động kháng chiến tại chiến trường từ tháng 7/1972- tháng 10/1976 và có tỉ lệ suy giảm khả năng lao động là 68% (BL 208, 209, 210); trong quá trình học tập và công tác bị cáo được tặng thưởng nhiều giấy khen về thành tích học tập và công tác; quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo và gia đình chấp hành tốt chính sách pháp luật của nhà nước. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo để xử phạt bị cáo Phùng Đức A 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù giam là quá nghiêm khắc bởi bị cáo là người có số lần đánh bạc ít nhất. 05/141 lần đánh bạc với số tiền từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, không có lần nào đánh bạc trên 50.000.000 đồng. Tổng số tiền trong các lần đánh bạc đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự là 33.244.500 đồng; số tiền thua là 10.323.000 đồng. Bị cáo có nhân thân thân tốt, có bố tham gia trong lực lượng kháng chiến hiện đang nhiễm chất độc hóa học cần người chăm sóc, có mẹ là Nguyễn Thị G được tặng thưởng kỷ niệm chương vì sức khỏe nhân dân; bản thân bị cáo hiện cũng đang công tác tại tại Trung tâm y tế huyện TY, tỉnh Yên Bái, tích cực tham gia lực lượng y tế phòng chống dịch covid tại chốt số 6 xã MQ từ ngày 02/8/2021 đến ngày 29/11/2021 có xác nhận của Trung tâm y tế huyện TY. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, HĐXX xét thấy bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Từ những phân tích trên, HĐXX không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thành T, Trần Phương P, Trần Văn M. Chấp nhận giảm một phần hình phạt cho các bị cáo Lê Đình H, Bùi Đình K, chuyển từ hình phạt tù giam sang cho hưởng án treo đối với bị cáo Phùng Đức A.

Về án phí: Do kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thành T, Trần Phương P, Trần Văn M không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo Lê Đình H, Bùi Đình K, Phùng Đức A được chấp nhận kháng cáo nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH

I. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thành T, Trần Phương P, Trần Văn M; giữ nguyên quyết định về hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2022/HS-ST ngày 18/11/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên đối với các bị cáo Nguyễn Thành T, Trần Phương P, Trần Văn M.

II. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Đình H, Bùi Đình K, Phùng Đức A; Sửa một phần quyết định về hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2022/HS-ST ngày 18/11/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên đối với các bị cáo Lê Đình H, Bùi Đình K, Phùng Đức A.

Cụ thể như sau:

1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thành T, Lê Đình H, Bùi Đình K, Trần Văn M, Trần Phương P, Phùng Đức A phạm tội “Đánh bạc” 2. Về hình phạt chính:

2.1. Áp dụng điểm b, điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T 03 (ba) năm tù. Khấu trừ cho bị cáo 114 ngày tạm giữ, tạm giam. Bị cáo còn phải chấp hành 02 (hai) năm 08 (tám) tháng 06 (sáu) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

2.2. Áp dụng điểm b, điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Đình H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Khấu trừ cho bị cáo 89 ngày tạm giữ, tạm giam. Bị cáo còn phải chấp hành 02 (hai) năm 01 (một) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

2.3. Áp dụng điểm b, điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Đình K 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Khấu trừ cho bị cáo 86 ngày tạm giữ, tạm giam. Bị cáo còn phải chấp hành 01 (một) năm 06 (sáu) tháng 04 (bốn) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

2.4. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn M01 (một) năm 10 (mười) tháng tù. Khấu trừ cho bị cáo 86 ngày tạm giữ, tạm giam. Bị cáo còn phải chấp hành 01 (một) năm 07 (bảy) tháng 04 (bốn) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

2.5. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Phương P01 (một) năm 08 (tám) tháng tù. Khấu trừ cho bị cáo 86 ngày tạm giữ, tạm giam. Bị cáo còn phải chấp hành 01 (một) năm 05 (năm) tháng 04 (bốn) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

2.6. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38; khoản 1 Điều 54, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phùng Đức A 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm. Thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 13/6/2023).

Giao bị cáo Phùng Đức A cho Ủy ban nhân dân phường NC, thành phố YB, tỉnh Yên Bái để giám sát, giáo dục. Trường hợp bị cáo Phùng Đức A thay đổi nơi cư trú thì UBND phường NC có trách nhiệm thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố YB, tỉnh Yên Bái để làm thủ tục chuyển giao hồ sơ thi hành án treo cho UBND cấp xã, phường, thị trấn nơi bị cáo Phùng Đức A đến cư trú để giám sát, giáo dục.

Gia đình của bị cáo Phùng Đức A có trách nhiệm phối hợp với UBND phường NC, thành phố YB, tỉnh Yên Bái trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

III. Xác nhận bị cáo Lê Đình H đã nộp 10.000.000 đồng tiền phạt bổ sung, 237.469.940 đồng tiền thu lợi bất chính, 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm được thể hiện tại các biên lai thu tiền số 0000137, 0000131, 0000132, 0000133 cùng ngày 29/11/2022 và 0000234 ngày 11/5/2023 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Điện Biên.

- Xác nhận bị cáo Bùi Đình K đã nộp 10.000.000 đồng tiền phạt bổ sung, 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm được thể hiện tại biên lai thu tiền số 0000235 ngày 11/5/2023 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Điện Biên.

- Xác nhận bị cáo Trần Phương Pđã nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm được thể hiện tại biên lai thu tiền số 0000214 ngày 11/4/2023 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Điện Biên.

- Xác nhận bị cáo Trần Văn Mđã nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm được thể hiện tại biên lai thu tiền số 0000134 ngày 29/11/2022 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Điện Biên.

- Xác nhận bị cáo Phùng Đức A đã nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm được thể hiện tại biên lai thu tiền số 0000136 ngày 29/11/2022 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Điện Biên.

IV. Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Thành T, Trần Phương P, Trần Văn M, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự phúc thẩm.

V. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

41
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án về tội đánh bạc số 419/2023/HS-PT

Số hiệu:419/2023/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 13/06/2023
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về